Hiển thị các bài đăng có nhãn Con Người xứ Nghệ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Con Người xứ Nghệ. Hiển thị tất cả bài đăng

Dấu ấn Hoàng đế Quang Trung trên đất Nghệ An




 Nghệ An không phải là nơi diễn ra những trận đánh có ý nghĩa quyết định dẫn đến thắng lợi của phong trào Tây Sơn. Nhưng trong tất cả những cuộc tiến quân ra Bắc, quân Tây Sơn đều dừng chân tại Nghệ An và việc Quang Trung Nguyễn Huệ chọn núi Phượng Hoàng xây thành làm Kinh đô có thể thấy ông đã đánh giá rất cao đất và người nơi đây.

Di tích Thành Phượng Hoàng Trung Đô
Theo một số nhà nghiên cứu, tổ tiên của 3 anh em Tây Sơn vốn người làng Thái Lão (xã Hưng Thái, Hưng Nguyên). Trong những năm 1655 - 1660, dòng họ này gốc là họ Hồ, theo chúa Nguyễn vào ấp Tây Sơn thuộc huyện Phù Ly, phủ Quy Nhơn, nay là tỉnh Bình Định để khai hoang mảnh đất mới mở rộng. Vào đây, họ Hồ đổi thành họ Nguyễn, mấy đời sau sinh ra ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ.

Năm 1771, Nguyễn Nhạc cùng với hai người anh em là Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ dựng cờ khởi nghĩa ở ấp Tây Sơn. Chỉ trong một thời gian ngắn, nghĩa quân Tây Sơn đã làm chủ Đàng Trong. Sau đó, Nguyễn Huệ hai lần tiến quân ra Bắc, lần lượt đánh đổ chúa Trịnh và vua Lê.

Năm 1788, Lê Chiêu Thống rước 29 vạn quân Thanh xâm lược Bắc Hà, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Đế đặt niên hiệu là Quang Trung, sáng nghiệp ra nhà Nguyễn Tây Sơn, rồi thần tốc kéo quân ra Bắc đánh đuổi ngoại xâm. Trên đường tiến quân, nhà vua đã cho dừng lại ở Nghệ An để mộ quân.

Sau khi đánh bại quân Thanh, Quang Trung nhìn thấy rõ thế chiến lược của vùng đất Nghệ An và lòng người xứ Nghệ nên đã giao cho Trấn Thủ Thận và La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp tổ chức xây dựng Thành Phượng Hoàng Trung Đô. Sách "Hoàng Lê nhất thống chí" viết: "Vua Quang Trung cho rằng Nghệ An ở vào giữa chính nước, đường sá từ Nam ra, từ Bắc vào đều vừa bằng nhau, quê tổ tiên mình ở đấy, bèn sai trưng dụng rất nhiều thợ thuyền chở gỗ đá, gạch ngói để xây dựng cung phủ, lâu đài. Đắp thành đất chung quanh và sai lính đào đá o­ng ở địa phương để xây dựng thành trong. Dựng tòa lầu rồng ba tầng cung điện Thái Hòa, hai dãy hành lang để phòng dùng đến khi có lễ triều hạ. Thành này được gọi là Phượng Hoàng Trung Đô hoặc Trung kinh Phượng Hoàng thành". Chỉ hơn 1 năm sau, ngày 5 tháng 10 năm Kỷ Dậu (tức ngày 21/11/1789), trong tờ chiếu gửi La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, một lần nữa Nguyễn Huệ Quang Trung khẳng định việc xây dựng bằng được Phượng Hoàng Trung Đô để đóng đô ở Nghệ An: "Trẫm nay đóng đô ở Nghệ An, cùng tiên sinh gần gũi. Rồi đây tiên sinh hãy ra giúp nhau để trị nước". Theo các thư tịch còn giữ được thì vua Quang Trung đã làm việc ở Phượng Hoàng Trung Đô ít nhất hai lần. Lần thứ nhất, tháng 5 năm 1791, vua Quang Trung từ đây kéo quân lên vùng thượng du Nghệ An, vượt sang Lào đánh các lực lượng phản động đang có âm mưu cấu kết với bè lũ Lê Duy Chỉ chống lại triều Tây Sơn. Lần thứ hai, tháng 1 năm 1792, trên đường đánh giặc từ thượng du Nghệ An về, vua Quang Trung đã dừng chân ở đây.

Rất tiếc, vua Quang Trung qua đời đột ngột vào ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý (1792) nên chưa kịp dời đô từ Phú Xuân ra Phượng Hoàng Trung Đô. Phượng Hoàng Trung Đô là chứng tích hào hùng thể hiện tầm nhìn văn hóa của Nguyễn Huệ Quang Trung trong quá trình đấu tranh thống nhất đất nước, xây dựng cuộc sống thái bình, ấm no, hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam.


Lễ Đại tế tại Đền thờ Vua Quang Trung kỷ niệm ngày mất của ông.
Đền thờ Vua Quang Trung trên núi Dũng Quyết

Từ một cuộc khởi nghĩa nông dân phát triển thành một phong trào dân tộc, thắng lợi vẻ vang nhất của phong trào Tây Sơn là lật đổ nền thống trị của các thế lực phong kiến phản động, thống nhất đất nước và bảo vệ độc lập dân tộc.

Thể theo nguyện vọng của nhân dân và tỏ lòng biết ơn vị anh hùng "áo vải", ngày 23/7/2004, UBND tỉnh Nghệ An đã ra quyết định xây dựng Đền thờ Vua Quang Trung tọa lạc trên đỉnh thứ hai của núi Dũng Quyết có độ cao 97m so với mặt nước biển, thuộc vùng đất linh thiêng được Vua Quang Trung từng chọn đóng đô cách đây hơn 200 năm. Toàn bộ ngôi đền được làm bằng gỗ lim, lối đi, bờ vỉa, sân đền tạo nên vẻ uy nghi, hiện đại nhưng không kém phần cổ kính. Hệ thống vì kèo kết cấu của đền kiểu giá chiêng chồng rường, chạm khắc họa tiết theo phong cách thời Nguyễn. Mái lợp ngói mũi hài, gồm hai lớp: ngói chiếu, ngói cót, nền được lát gạch bát tràng kiểu cổ phục chế từ Hà Tây. Tường xây gạch bát, cửa đi, cửa sổ kiểu bức màn thượng song hạ bản. Đền có hai lối ra vào ở hai bên, chính giữa là nghi môn ngoại (Nghi môn tứ trụ) được thiết kế kiến trúc kiểu 2 tầng 8 mái. Tiếp đó là bình phong tứ trụ được dựng ngay trên trục chính đạo, được làm bằng đá chạm trổ rất công phu và đẹp. Hai bên bình phong khắc triện gấm, ở giữa là cuốn thư, trung tâm có hai chữ Thọ Đế. Phía trên nữa là hình rồng chầu mặt nguyệt, dưới cùng là chân quỳ dạ cá, chạm hổ phù. Hai bên có hai con nghê đứng chầu, tượng trưng cho vai trò người bảo vệ kiểm soát linh hồn người ra vào. Qua bình phong tứ trụ là hai nhà bia ngoảnh mặt vào nhau song song với trục chính đạo. Nối tiếp là nhà tả vu, hữu vu. Qua khu vực này là nhà bái đường rộng lớn còn gọi là tiền đường, nơi để sửa soạn lễ, chỉnh trang trước khi hành lễ. Nhà Tiền đường có thể được xem là trung tâm của ngôi đền được thiết kế theo lối kiến thúc dân gian Việt Nam gồm ba gian, hai chái, với bốn hàng cột. Công trình được khánh thành vào ngày 7/5/2008.

Hàng năm, tại Đền thờ Vua Quang Trung có các ngày lễ quan trọng như giỗ Vua Quang Trung ngày 29 tháng 7 âm lịch; ngày 5/1 âm lịch kỷ niệm ngày chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa; ngày 1/10 DL kỷ niệm ngày Vua Quang Trung ban chiếu chỉ xây dựng Phượng Hoàng Trung Đô.

Mộ La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp
La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp (1723-1804) quê ở làng Nguyệt Ao, huyện La Sơn (nay là huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh). Ông là một nhà nho lỗi lạc, một vị qua thanh liêm, mẫn cán dưới thời vua Quang Trung.

Với cương vị Viện trưởng Viện Sùng Chính, Nguyễn Thiếp đã đề ra những cải cách về văn hóa, giáo dục của nước nhà cuối thế kỷ thứ XVIII. Trong đó, công lao lớn nhất của Nguyễn Thiếp là thực hiện chủ trương của Quang Trung: chấn hưng, đề cao chữ Nôm, đưa chữ Nôm trở thành văn tự chính thức của nước Việt. Tại triều đình, ông chủ trương dùng chữ Nôm trong các hạng sắc dụ thay chữ Hán. Ông cùng với các cộng sự dày công ở Viện Sùng Chính dịch nhiều bộ sách kinh điển quan trọng từ Hán tự sang Nôm. La Sơn Phu Tử còn là một nhà giáo có công lớn đối với nền giáo dục nước nhà. Ngay tại khoa thi Hương đầu tiên dưới triều đại Quang Trung tổ chức ở Nghệ An vào năm 1789, Nguyễn Thiếp được cử làm Chánh Chủ khảo. Ngoài Viện Sùng Chính, Nguyễn Thiếp còn được vua Quang Trung giao phó một nhiệm vụ cực kỳ hệ trọng: chọn địa điểm để xây dựng Kinh đô mới cho triều đại nhà Tây Sơn tại Nghệ An.

Khi La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp qua đời, nhân dân và con cháu đã mai táng ông tại núi Bùi Phong, xã Nam Kim, huyện Nam Đàn. Để phát huy truyền thống uống nước nhớ nguồn, giáo dục thế hệ trẻ về những giá trị lịch sử và văn hóa, Bộ VHTT đã xếp hạng mộ La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp cấp Quốc gia.

Hiện nay, mộ ông đã được Nhà nước, dòng họ tôn tạo, xây dựng thành khuôn viên đẹp trên núi Bùi Phong, có đường lên xuống dễ dàng, thuận tiện cho nhân dân và du khách mỗi khi tới thắp hương tưởng nhớ tới ông - một bâc tiên sinh tài cao, đức trọng, chí khí sáng ngời, tiêu biểu cho nhân cách của con người Việt Nam. Hàng năm, vào các dịp lễ, Tết và ngày giỗ của ông, con cháu trong dòng họ và nhân dân địa phương tổ chức lễ tế trang trọng, chu đáo.

Cùng với các địa danh khác, mộ La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp là một trong những di tích lịch sử văn hóa quan trọng nằm trong điểm đến tâm linh của du khách trong và ngoài tỉnh.

Chùa Đại Tuệ trên núi Đại Huệ
Hoàng đế Quang Trung từng cho quân sĩ vượt qua núi Đại Huệ và dừng chân nghỉ lại trên đỉnh núi Đại Huệ vào những ngày cuối cùng của năm 1788, trước khi tiến ra Bắc tiêu diệt 29 vạn quân Thanh. Tương truyền, ông đã vào thắp hương tại chùa Đại Tuệ, nhà sư trong chùa hướng dẫn ông con đường hành quân nhanh nhất trên địa bàn Nghệ An để ra Bắc.

Khi đánh thắng giặc Thanh trở về, ông lấy 20 mẫu ruộng ở địa bàn xã Nam Anh (Nam Đàn) ngày nay cấp cho chùa Đại Tuệ. Số ruộng đất này được tăng ni phật tử, nhân dân trong vùng cày cấy giúp nhà chùa. Như vậy, từ khi Hoàng đế Quang Trung còn trị vì, chùa Đại Tuệ đã có mối liên hệ gần gũi với Vương triều Tây Sơn.

Chùa Đại Tuệ là ngôi chùa cổ được xây dựng từ thế kỷ XIV để thờ Phật toạ lạc trên núi Đại Huệ, thuộc xã Nam Anh, huyện Nam Đàn. Tương truyền chùa có cách đây trên 600 năm, từ lâu đã là một không gian tâm linh hùng vĩ, thiêng liêng, không chỉ của đất Nghệ An mà còn của cả nước. Chùa nằm trên khuôn viên khoảng 600m2, ở độ cao hơn 450m so với mực nước biển trong một không gian tĩnh lặng, cảnh vật thơ mộng, hữu tình.

Trải qua thời gian hàng trăm năm với nhiều biến cố lịch sử, thiên nhiên, Chùa Đại Tuệ nay đã thành phế tích, đồ tế khí mất mát, lưu tán. Hiện nay, dấu tích còn lại của chùa là 3 bức tượng xây bằng gạch cao 2,2 m; dày 0,5 m xung quanh khuôn viên có kè đá bao quanh rộng khoảng 20 m, dài 30 m. Phía Đông có một ngôi mộ được ghép bằng đá cao khoảng 1m mà nhân dân cho rằng đó là mộ Vua Cảnh Thịnh. Cách chùa 50 m về phía Đông Bắc là một giếng nước được kè đá xung quanh dùng để phục vụ tế lễ. Cách đây hơn 10 năm, nhân dân địa phương đã tự nguyện công đức phục hồi lại một gian nhà nhỏ trên nền chùa xưa. Bộ Tư lệnh Quân khu 4 cùng một số doanh nghiệp đã góp công đức xây dựng một con đường từ chân núi lên đến di tích để thuận lợi cho nhân dân, phật tử, du khách lên thăm chùa.

Để gìn giữ và phát huy một di tích lịch sử - văn hoá có giá trị, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa tâm linh của phật tử, nhân dân trong vùng, Tỉnh uỷ, UBND tỉnh đã đồng ý việc phục dựng Chùa Đại Tuệ. Đầu tháng 10/2009, Sở VH - TT và DL đã tổ chức Hội thảo khoa học "Phục dựng Chùa Đại Tuệ" với mục đích làm rõ nguồn gốc, nội dung, kiến trúc, cảnh quan, văn hoá, hiện trạng của Chùa Đại Tuệ. Tháng 4/2010, Đại diện Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam trao Quyết định bổ nhiệm trụ trì chùa Đại Tuệ cho Thượng toạ Thích Thọ Lạc và công bố Quyết định của UBND tỉnh về việc phục dựng chùa Đại Tuệ. Việc phục dựng lại Chùa Đại Tuệ trong thời gian tới có ý nghĩa quan trọng trong việc gìn giữ, phát huy di sản văn hóa dân tộc, đáp ứng nguyện vọng thờ Phật, hướng thiện, nhu cầu sinh hoạt văn hóa tâm linh của nhân dân, đồng thời tạo thêm một công trình kiến trúc, văn hóa tâm linh đẹp, gắn với danh thắng núi Đại Huệ, mộ bà Hoàng Thị Loan để phục vụ khách tham quan du lịch trong nước và quốc tế.

Di tích thời Hoàng Đế Quang Trung trên đất Nghệ An ngoài Phượng Hoàng Trung Đô, Mộ La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, Chùa Đại Tuệ, còn có các sắc phong của Vua Quang Trung cho Đậu Yên, Đậu Khâm là hai chú cháu quê ở làng Yên Dũng Hạ, tổng Yên Trường, phủ Hưng Nguyên (nay thuộc phường Bến Thủy và Trung Đô, TP Vinh); gia đình ông Lê Quốc Cơ ở thượng huyện Anh Sơn (xưa là xã Quan Lạng, nay là xã Tường Sơn, Anh Sơn); Hồ Phi Tứ ở Quỳnh Hồng, Quỳnh Lưu; Nguyễn Sỹ Xung ở Thanh Lương, Thanh Chương; Đào Đình Truật ở Lưu Sơn, Đô Lương; Trần Suất ở An Hòa, Quỳnh Lưu. Tất cả những sắc phong này đang được bảo quản cẩn thận ở các nhà thờ họ. Riêng Đậu Yên, Đậu Khâm được nhân dân làng Yên Dũng Hạ dựng đền Tam Tòa ngày đêm hương khói, thờ phụng. Hàng năm, đến ngày Rằm tháng Giêng âm lịch, nhân ngày giỗ Đậu Yên, Đậu Khâm, nhân dân tổ chức rất long trọng để nhớ ơn hai chú cháu đã làm rạng rỡ cho quê hương, đất nước.

Những hiện tượng độc đáo trong khoa bảng xứ Nghệ

Xứ Nghệ - một trong những địa phương được cả nước tôn vinh là nhân dân có truyền thống hiếu học và khổ học. Cũng vì thế mà xứ Nghệ là nơi sản sinh ra câu ca:“Sáng khoai, trưa khoai, tối khaoi, khoai ba bữa Cha đỗ, con đỗ, cháu đỗ, đỗ cả nh�
Xứ Nghệ - một trong những địa phương được cả nước tôn vinh là nhân dân có truyền thống hiếu học và khổ học. Cũng vì thế mà xứ Nghệ là nơi sản sinh ra câu ca:
“Sáng khoai, trưa khoai, tối khoai, khoai ba bữa
Cha đỗ, con đỗ, cháu đỗ, đỗ cả nhà”
Nhờ sự thành đạt ngày càng cao trong học tập và thi cử chữ Hán mà các thế hệ tiền nhân đã làm cho Xứ Nghệ từ một vùng trại, biền viễn, phiên dậu phía nam của tổ quốc dưới thời Lý, Trần đã trở thành một vùng văn hóa dưới thời Lê, rồi nổi tiếng đậm đà sắc thái Xứ Nghệ dưới thời Nguyễn.
Trong suốt quá trình thi trí, đua tài trong khoa cử Nho sinh Xứ Nghệ đã là nên nhiều hiện tượng độc đáo, đáng tự hào, đã làm cho bề dày truyện thống hiếu học ngày càng được bồi đắp thêm.
1. Trang trại Nguyên Bạch Liêu, người mở đầu khoa bảng Xứ Nghệ
Khoa thi chữ Hán đầu tiên ở nước ta là khoa “Minh Kinh bác học” mở vào năm Ất Mão (1075) dưới thời vua Lý Nhân Tông. Khoa thi này trên bảng vàng chưa có người Xứ Nghệ. Phải đợi tới 191 năm sau, đến khoa thi Bính Thìn (1266) dưới thời Trần, Bạch Liêu mới dành được ngôi đầu bảng: Trại Trạng Nguyên.
Sách “Đại Việt tiên biên” ghi: “ Tháng 3, mở khoa thi chọn học trò, cho Trần Cố đỗ Kinh Trạng Nguyên, Bạch Liêu đỗ Trại Trạng Nguyên… Liêu là người Nghệ An, trí thông minh, nhớ lâu đọc sách liếc mắt là được 10 dòng” (Đại Việt sử ký tiền biên. H.KHXH, 1997, trang 350).
Bạch Liêu người làng Thanh Đàm, nay xã Mã Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
Sau khi đỗ Trại Trạng Nguyên, nhà vua ra chiếu chỉ mới Bạch Liêu vào triều nhận chức quan. Nưng ông đã bái tạ chiếu chỉ và xin nhà vua ở lại quê hương mà không nhận chức: “Xin Bệ hạ rũ lòng thần được ở lại quê hương báo hiếu song thân, thần xin đem tài lược lo giúp việc công ngay trong bản xứ”. (Đại Việt sử ký toàn thư. T2.KHXH, 1993, trang 36).
Nhà vua chuẩn y cho Bạc Liêu ở lại quê và làm môn khách cho Trần Quang Khải. Với cương vị như một quân sư, Bạch Liêu đã giúp Trần Quang Khai vạch ra “Biến pháp tam chương” gồm có 3 vấn đề: Tuyển quân, quân lương, chiến lược chống quân xâm lược Nguyên Mông do Toa Đô chỉ huy tấn công từ phía nam ra. Với sự giúp đỡ của Bạch Liêu, Trần Quang Khải đã chỉ huy quân và dân Xứ Nghệ đáng chặn con đường tiến công của quân Nguyên Mông tại bãi La Nam, huyện Nam Đàn. Năm 1287 Bạch Liêu còn được vua Trần cử tham gia đoàn sứ bộ sang nhà Nguyên.
2. Ba thế hệ nối tiếp nhau đỗ Trạng Nguyên
Hồ Tông Thốc quê ở Kẻ Cuối, nay thuộc xã Thọ Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, sinh năm 1324. Năm lên 17 tuổi (1341) dự thi Đình và đã đậu Trạng Nguyên.
Sự kiện độc đáo này đã được nhiều sử sách ghi chép, trong đó có sách “Nam ông mộng lục” của Hồ Nguyên Trừng làm vào năm 1438 viết: “Hồ Tông Thốc người Diễn Châu (1) thi đỗ từ hồi rất trẻ, rất có tài danh. Mới đầu chưa nổi tiếng lắm. Nhân tiết Nguyên Tiêu có đọa Pháp quan, họ Lê danh để mở tiệc để mới khách văn chương. Hồ Tông Thốc có giấy mới đề thơ. Trong một đêm, ngay trên bàn tiệc làm trăm bài thơ, uống trăm chén riệu, mọi người đều xúm xít thán phục, không ai địch nổi. Từ đó, danh lẫy lừng chốn Kinh đô. Về sau, dùng tài văn học là thơ cho mọi người. Thời Trần Nghệ Vương là quan đến chức Hàn Lâm học sỹ, Thừa chỉ kiêm Thâm hình viên sứ. Thơ và riệu không ngày nào vắng. Tuổi ngoài tám mươi mất tại nhà”.
Con ông là Hồ Tông Đốn đậu Trạng Nguyên. Con ông Hồ Tông Đồn là Hồ Tông Thành, tức cháu Hồ Tông Thốc cũng đậu Trạng Nguyên đời Trần.
Khi Hồ Tông Thành đậu Trạng Nguyên, quan Thám sư Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải đã có bài thơ nhan đề là “Hạ Hồ Thành trúng Trạng Nguyên” mừng cho sự hiển đạt trong khoa bảng hiếm thấy này.
3. Hai cha con đậu Tiến Sỹ cùng khoa
Khoa thi Hội năm Nhâm Thìn (1592) hai cho con Ngô Trí Tri và Ngô Trí Hòa, quê ở xã Lý Trai (nay là xã Diễn Kỷ) huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An cùng đi thi Hội. Kết quả trên bảng vàng ghi rõ: Ngô Trí Tri đậu Đệ tam giáp Tiến sĩ, Ngô Trí Hòa đệ nhị giáp tiến sĩ (Hoàng giáp), nên người đời gọi là “Nhất môn phụ tử bảng liên đồng” (một nhà cha con đều thi đậu Tiến sĩ cùng khoa). Đây là trường hợp có một không hai trong lịch sử khoa bảng nước ta. Bài văn bia khoa Nhâm Thìn (1592) ở Quốc Tử Giám ghi rõ “… Học trò, dân chúng chốn kinh kỳ xúm xít đi xem. Ai nấy đều lấy là sung sướng được trông thấy cảnh thái bình duới triều vua Thánh, có cha con cũng đỗ một khoa, thật là thịnh hội văn minh vậy”.
Vua Lê Thế Tông tặng bức trướng có 10 chữ vàng cho hai cho con vinh quy bái tổ: “Khoa danh thiên hạ hữu, phụ tử thế gian vô” (Đậu đại khoa trong nước có nhiều người, nhưng cha con cùng đậu một khoa thì chưa thấy bao giờ).
Ngô Trí Tri làm qua đến Giám sát Ngự sử, Lễ bộ Tả thị lang, tước Khánh Diên bá. Ngô Trí Hòa được cử làm Chánh sứ sang triều Minh có còn thuyết phục vua Minh bỏ lệ cống người vàng thay bằng vật phẩm khác. Ông được thăng Thượng thư bộ Hộ kiêm Tề tửu Quốc tử giám và trông coi phủ chúa, lại thăng Thiếu bảo, tước Phú Xuân hầu, khi mất được tặng Xuân quận công.
4. Hai người cùng tổng đậu đầu cùng một khoa thi Hội:
Nguyễn Đức Đạt (1824-1887) quê làng Hoành Sơn(nay là xã Khánh Sơn), Nguyễn văn Giao (1812-1864) quê ở làng Trung Cần (nay là xã Nam Trung Cần. Làng Hoành Sơn và Trung Cần đều thuộc tổng Nam Kim, huyện Nam Đàn, cùng ở trên hữu ngạn sông Lam, cách nhau khoảng 3 km).
Hai người cùng dự khoa thi Hội năm Quý Sửu (1853) và cùng đậu đầu (Đệ nhất giáp đệ tam danh). Lúc đó, Nguyễn Đức Đạt mới chỉ 29 tuổi, Nguyễn Văn Giao đã 42 tuổi. Vua Tự Đức xếp Nguyễn Đức Đạt Thám Nhất, Nguyễn Văn Giao Thám Nhì.
Sau khi vinh quy bái tổ, Nguyễn Đức Đạt đến chơi nhà Nguyễn Văn Giao. Đang mùa hè, thấy nhà Nguyễn Văn Giao chỗ nào cũng có đậu, Nguyễn Đức Đạt liền đọc một lỉa câu đối:
“Trong nhà đậu, ngoài sân đậu, cha thi đậu, con học đậu, thi vân đa đậu thư chi vi dã”.
Nguyễn Văn Giao nhìn ngoài sân, thấy hàng dâm bụt đang nở hoa, liền đối:
“Trên cấy hoa, dưới gốc hoa, bác vinh hoa, tôi Thám hoa, thi viết: trùng hoa bất diệc nghi hồ”.
5. Một mình một bảng, danh dự thế gian chưa từng có
Phan Bội Châu tên hồi nhỏ gọi là Phan Văn San. Phan Văn San thông minh, học giỏi, nổi tiếng là “thần đồng đất Vạn An”. Năm 18 tuổi đậu Đầu xứ nên nhân dân gọi là Đầu xứ San và có tên trong “từ hổ Nam Đàn”. Nhưng sau đó, dự thi Hương hỏng ba bốn khoa liền. Khoa thi Hương năm Đinh Dậu (1897), Phan Văn San dự thi Hương ở trường thi Nghệ An. Đệ nhất trường, Phan làm bảy bài kinh nghĩa, đều được ưu và bình. Qua đệ nhị trường, trong khi San đang chăm chú làm bài, thì có một thí sinh gần đó đến nhờ Phan giúp đỡ gỡ bí bài làm. Vừa lúc đó, lính đi tuần phóng các lều, thí sinh nọ hoảng hốt bỏ chạy, vứt tập tài liệu “chữ kiến” (viết chữ nhỏ các tài liệu cần thiết để dễ mang vào trong trường thi) vào bên cạnh lều của Phan. Thế là Phan bị kết án “hoài hiệp văn tự, chung thân bất đắc ứng thí” (mang tài liệu cấm vào trong trường thi, suốt đời bị cấm thi).
Bị án oan, không thể thanh minh được. Phan đã đi vào kinh đô dạy học tại nhà ông Võ Bá Hạp ở của An Hòa. Một thời gian sau, Phan được các quan đại thần biết tiếng, lại được Tề tựu Quốc từ giám Kiếu Năng Tĩnh giúp đỡ, tâu lên vua Thành Thái án oan của Phan, được nhà vua đạo dụ xóa án. Phan Văn San đổi tên thành Phan Bội Châu trở về dự khoa thi Hương Canh Tý ở trường Nghệ. Khiếu Năng Tĩnh từ kinh đô Huế ra Vinh là Chánh chủ khảo. Bài thi của Phan Bội Châu được 20 điểm ưu và bình, không có điểm thứ, được đậu Giải Nguyên.
Quan tổng đốc An Tĩnh là Đào Tấn đã bàn với quan Cánh chủ khảo Kiếu Năng Tĩnh cho biết tên Phan Bội Châu đứng riêng một bảng và tặng cậu đối:
“Song tải tam nguyên thiên hạ hữu
Độc danh nhất bảng thế gian vô”
(hai năm, ba lần đậu đầu, thiên hạ đã có. Một mình, một bảng danh dự thế gian chưa từng)
Cụ Huỳnh Thúc Kháng cũng ca ngợi Phan Bội Châu: “Bảng một tên lừng lẫy khắp làng văn”.
6. Tám mươi hai tuổi, vẫn lều chõng dự thi
Đoàn Từ Quang (1819-1928) người làng Phụng Công, nay thuộc xã Đức Hòa và Đức Lạc, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Ông mồ côi cha từ lúc mới lọt lòng mẹ. Mẹ ông lúc đó mới 17 tuổi đã chấp nhận cuộc sống cô quả, ở vậy nuôi con trưởng thành. Trước tình cảnh tất tả vì con của người mẹ, Đoàn Tử Quang dốc chí học hành mong sớm đỗ đạt để báo đáp công ơn đấng sinh thành. Nhưng trải qua hành chục lần thi Hương ông cũng chỉ đậu hai lần tú tài vào năm 49 và 60 tuổi. Cho đến khoa thi Hương Canh Tý (1900), mặc dầu tuổi đã 82, vợ lại mới mất mấy tháng nhưng không nỡ phụ lòng mong mỏi ngày đêm của mẹ già đã gần 100 tuổi, nên ông đẫ lên đường ra Vinh ứng thí.
Kết quả Đoàn Tử Quang đã đậu Cử nhân thứ áp chót (29/30). Nhưng Cánh chủ khảo Khiếu Năng Tĩnh nâng lên thứ 21 (21/30). Phan Bội Châu người đậu Giải Nguyên khoa này cũng có thơ chức mừng:
“Đoàn Tử Quang xuân thu bát thập nhị,
Đương Hoàng triều Canh Tý chi niên.
Trên Cửu trùng có chiếu cầu hiền,
Già lọm khọm đề tên ứng thí.
Từ trường Nhất rồi sang trường Nhị,
Qua trường Tam, văn lý đủ ưu, bình.
Chờ đến ngày treo bảng xướng danh
Thứ hai một rành rành trong Hương Giải…”
Sau khi đậu Cứ nhân, Đoàn Tử Quang được bổ làm giáo thụ huyện Hương Sơn, rồi Can Lộc. Năm 85 tuổi ông xin cáo quan, vè quê phụng dưỡng mẹ già. Năm 1919, đạt tuổi thọ thứ 100 được triều đình ban biển “Thọ quan”. Năm 1924, đạt tuổi thọ 105 tuổi lại được triều đình phong hàm “Hàn lâm viên thị độc”. Sau lễ mừng thọ thứ 110 tuổi, ngày 7/2/ Mậu Thìn (1928), ông qua đời nhẹ nhàng như một giấc ngủ thường ngày. Với tuổi thọ 3 con số, Đoàn Tử Quang sống suốt 13 triều vua Nguyễn, từ ông vua đầu tiên là Gia Long đến ông vua cuối cùng là Bảo Đại, đã để lại một tấm gương về đạo học, đạo hiếu sáng ngời cho hậu thế.
7. Không chờ dân làng lên rước lễ vinh quy, sáng tinh mơ đã đi bộ về quê
Nguyễn Sinh Sắc (1863-1929), quê ở làng Kim Liên, xã Chung Cự nay là xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Năm ông 31 tuổi (1894) đậu Cử nhân, năm 38 tuổi (1901) trong cảnh ngộ vợ mới mất, có bốn đứa con, không kế sinh nhai, nhưng đã gửi con cho mẹ vợ (Nguyễn Thị Kép) quyết tâm vào kinh đô Huế dự kỳ thi Hội khoa Tân Sửu.
Khoa này, trên bảng vàng chỉ có tên 22 người, trong đó: có 9 tiến sĩ và 13 phó bảng, trong đó riêng huyện Nam Đàn đẫ có 3 người đậu Hội là Tiến sĩ Nguyễn Đình Điển ở làng Xuân Hồ, Phó bảng Nguyễn Xuân Thường ở làng Dương Liễu và Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc ở làng Kim Liên.
Sau khi dự lễ chúc mừng của tổng đốc Đào Tấn ở Hành cung, các vị tân khoa chờ dân làng của mình lên tận dinh Tổng đốc làm lễ rước vinh quy bái tổ. Sáng tinh mơ ngày hôm sau, Nguyễn Sinh Sắc đã một mình đi bộ về làng, không chờ dân xã lên đón rước. Khi ông về đến cầu Hữu Biệt cách nhà 4 km, gặp dân xã Chung Cự mang vọng, lọng, cờ, trống trên đường xuống vinh rước Phó bảng tân khoa về làng. Gặp ông giữa đường, nhân dân vô cùng mừng rỡ liên trương lọng, tung cờ, nổi trống, giăng võng mới ông nằm lên để nhân dân được rước lễ vinh quy.
Ông lại thưa: “Tôi đậu chẳng có ích gì cho bà con làng xóm mà phải đón rước”. Dân làng cùng thưa: “Từ xưa đến nay xã Chung Cự ta đẫ có 193 người đậu đạt, nay mới chỉ có ông mới đậu Đại khoa làm vể vang cho làng, xã xin được rước lễ vinh quy bái tổ cho thỏa lòng mong ước bấy lâu nay”.
Ông Nguyễn Sinh Sắc một mực từ chối, dân xã đành phải lặng trống, xếp võng, xếp lọng cùng Phó bảng tân khoa đi bộ về làng.
Xã Chung Cự trích 20 quan tiền và ruộng thánh để ông làm lễ ăn mừng. Ông từ chối nhưng vì lệ làng, buộc ông phải nhận. ông lấy lý do đang có tang vợ, không tổ chức ăn mừng, chỉ nhận 10 quan mua trầu nước mới dân làng, số còn lại ông đem chi cho người nghèo trong làng làm vốn, nâng cao mức sống.
Sau khi ông mất (27/10/ Kỷ Tỵ-1929) để nhớ ơn ông, cả làng đã quyết định chuyển ngày lễ Thường Tân (cúng cơm mới) ngày 15/10/âm lịch sang ngày 27/10/ âm lịch để cả làng cúng giỗ ông.
8. Ngôi nhà của cha mẹ là nơi ưng ý hơn cả
Đoàn văn Tụ (1877-1958), người làng Trù Phúc, nay thuộc xã Lạc Sơn huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, mô côi cha từ bé, phải đi ở chăn trâu cho một nhà giàu trong làng. Chỉ học lỏm thầy đồ làm gia sư cho con chủ nhà, mà sự hiểu biết về chữ nghĩa của thánh hiền đã tỏa sáng.
Đoàn Văn Tụ vượt khó, quyết tâm học tập, dự thi Hương đã đậu Tú tài.
Làng Trù Phúc trước đó chẳng có ai đậu đạt gì, nên dân gian có câu:
“Ba năm mở một khoa thi
Học trò Trù Phúc đừng đi tốn tiền”
Cho nên, hiện tượng Đoàn văn Tụ đỗ tú tài là một vinh hạnh chưa hề có. Làng long trọng làm lễ rước ông về, mở hội ăn mừng lớn. Đặc biệt làng quyết định tặng ông một ngôi nhà trong làng Trù Phúc tùy ý ông chọn, bất cứ ngôi nhà nào có giá trị vật chất cao đến mấy, làng cũng thương lượng để toại ý ông.
Làng ép ông nằm lên võng điều, rước ông đi kắp làng để chọn, người bảo ông nên lấy ngôi nhà đẹp, thế đất có vượng khí, người bảo nên lấy ngôi nhà khia rộng rãi mát mẻ có vườn cây xanh tốt, hoa trái xum xuê quanh năm, ngoảng mặt ra đường cái quan. Nhưng ông chẳng ưng một ngôi nhà nào cả. Khi võng đưa ông đến cổng ngôi nhà mẹ ông đang ở, ông bảo dừng lại, chỉ vào túp lều tranh và nói rằng: “Xin làng cho tôi ngôi nhà này”.
Ôi! Ngôi nhà của cha mẹ gắn bó với lòng hiếu hạnh của ông Tú trẻ, nơi bố đã ra đi, nơi người mẹ đã vất vả vươn lên trong cuộc sống. nay được vinh hiển, làm sao nỡ bỏ được tổ ấm đơn sơ đầy kỷ niệm sâu sắc của tuổi thơ, đậm đà cuội nguồn văn hóa này.
Nhân dân trong làng cảm động, hiểu thấu tấm lòng vàng hiếm có nên đã cùng nhau góp công, của dụng cho ông ngôi nhà ba gian khang trang và ông đã ở đó trọn đời.
Ngoài những hiện tượng độc đáo kể trên, ở Nghệ An còn có những hiện tượng đáng tự hào mang tính truyền thống như dòng họ Hồ nổi tiếng khoa bảng với 19 Tiến sĩ, trong đó có 3 Trạng Nguyên, 3 Hoàng giáp; Dòng họ Ngô ở Lý Trai 4 đời liên tiếp đậu 5 Tiến sĩ; Dòng họ Đinh ở Kim Khê 3 đời Tiến sĩ, 2 lần bị tru di tam tộc vẫn tồn tại và phát triển; Donhf họ Nguyễn ở Trung Cần “Tam thế ngũ ngũ hoàng hoa”; Dòng họ Nguyễn Đức ở Hoành Sơn một hế hệ 2 Đình Nguyên Tiến sĩ; Dòng họ Đặng ở Nho Lâm, 3 cha con đậu đại khoa, 2 anh em đậu đồng khoa; Dòng họ Lê ở Quan Trung, 2 cha con đậu tiến sĩ làm qua Thượng thư đồng triều…
Tất cả đã tạo nên trầm tích văn hóa, tạo thành bề dày truyền thống hiếu học, rèn đúc nhân tài đáng tự hào của Xứ Nghệ thân yêu./.
_____________________________________________________________
(1) Lúc đó Diễn Châu gồm có Yên Thành, Diễn Châu, Quỳnh Lưu và một phần Nghĩa Đàn bây giờ.


Khoa bảng xứ Nghệ trong Văn bia Văn Miếu Quốc Tử Giám



Bên cạnh các văn bản đăng khoa lục, các bộ sử, gia phả các dòng họ nổi tiếng…hệ thống văn bia đề danh tiến sĩ tại Văn Miếu Quốc Tử Giám là một nguồn tài liệu hết sức quý giá khi tìm hiểu truyền thống, thành tích khoa cử xứ Nghệ (Nghệ An, Hà Tĩnh) thời Lê sơ-Lê Trung Hưng.

  
Văn miếu là nơi ghi nhận, vinh danh thành tích cao nhất của trí thức Nho học xứ Nghệ trong các kỳ thi đại khoa (Thi Hội, thi Đình) được tổ chức tại kinh đô Thăng Long. Tại đây, trong hàng ngàn tiến sĩ được triều đình cho khắc đề bia, khoa bảng xứ Nghệ luôn nằm trong số ba hay bốn địa phương đứng đầu về số lượng cũng như thứ bậc (Bên cạnh Bắc Ninh, Hải Dương, Hà Nội, Thanh Hóa) trong các kì thi.
Tám mươi hai bia văn miếu ghi danh sách những người đỗ đạt trong tám mươi hai kỳ thi, mở đầu từ năm Đại Bảo thứ 3 (1442) đến năm Chiêu Thống thứ 7(1779), và được cho dựng bia từ năm Hồng Đức thứ 27(1484) đến năm Chiêu Thống thứ 8(1780). Trong 82 bia thì có tới 57 bia có tên người Nghệ An hoặc Hà Tĩnh đỗ (24 bia có ghi người Nghệ An, 23 bia với Hà Tĩnh, và trong 52 bia thì có đến 15 bia có Nghệ An và Hà Tĩnh cùng đỗ). Trải hơn 300 năm, trong số 1304 Tiến sĩ được đề bia thì có 110 Tiến sĩ người Nghệ. Theo thống kê của Đinh Khắc Thuân1, dựa theo các tài liệu Đăng khoa lục, trong tổng số 2263 Tiến sĩ đỗ trong triều Lê sơ (1426-1527), Lê Trung hưng (1533-1778) và Mạc (1527-1592) thì có tới 142 người Nghệ đỗ. Như vậy số Tiến sĩ xứ Nghệ trong bia văn miếu còn lại đến ngày nay chiếm 77,5% (110/142) trong tổng số lượng người Nghệ đỗ. Loại trừ đi số bia bị mất hoặc chưa cho khắc bia, danh sách đỗ đại khoa của người Nghệ trên văn bia hiện còn về cơ bản là phản ánh đúng đội ngũ đông đảo khoa bảng Nghệ trong các thế kỷ XVI-XVIII.
Nhìn chung lác đác mới có một số bia không ghi người Nghệ đỗ. Tuy nhiên có một giai đoạn khá đặc biệt khi khoa cử xứ Nghệ “mất trắng” trong tám kì thi liên tục các năm 1595, 1598, 1602, 1604, 1607, 1612, 1613, 1616 (Hiện tượng này không thấy trên văn bia văn miếu Huế. Thời Nguyễn khoa cử Nghệ nếu bị mất mùa thì chỉ gián đoạn tối đa một mùa). Trong các năm này, tên một người Nghệ duy nhất được nhắc trên văn bia, nhưng không phải với tư cách người đỗ mà là với tư cách giám thí: Lại bộ Tả thị lang Ngô Trí Hòa, Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân năm Quang Hưng 15 (1592) (ông làm giám thí trong ba kỳ thi 1612, 1613, 1616).
Ngoại trừ hiện tượng trên đây, còn lại phần lớn cứ đều đặn một mùa đại khoa đều có tên người Nghệ trên văn bia. Trong 57 bia có Tiến sĩ thì có tới 31 bia có ít nhất hai người Nghệ đỗ, còn lại 24 bia có một người Nghệ đỗ. Trong 110 Tiến sĩ thì có 8 người đỗ Đệ nhất giáp, 32 người đỗ Đệ nhị giáp, 70 người đố Đệ tam giáp1. Tám người đỗ Đệ nhất giáp là:
- Cao Quýnh: huyện Đông Thành, phủ Diễn Châu. Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ khoa thi Ất Mùi niên hiệu Hồng Đức thứ 6 (1475)
- Đinh Bạt Tụy: xã Bùi Khổng, huyện Hưng Nguyên. Đệ nhất giáp chế khoa2 xuất thân khoa thi Giáp Dần niên hiệu Thuận Bình thứ 6 (1554)
- Phan Tất Thông: xã Hạ Thành, huyện Đông Thành. Cùng khoa với Đinh Bạt Tụy.
- Dương Trí Dụng: xã Bạt Trạc, huyện Thiên Lộc. Đệ nhất giáp chế khoa xuất thân khoa thi Ất Sửu niên hiệu Chính Trị thứ 8 (1565).
- Nguyễn Bật Lương: xã Cương Giản, huyện Nghi Xuân. Đệ nhất giap Chế khoa xuất thân khoa thi Đinh Sửu niên hiệu Gia Thái thứ 5 (1577)
- Lê Phúc Nhạc: xã Lạc Xuyên, huyện Kỳ Hoa. Đệ nhất giáp Chế khoa xuất thân cùng khoa Nguyễn Bật Lương.
- Phan Cảnh: xã Lai Thạch, huyện La Sơn. Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ tam danh khoa thi Quý Hợi niên hiệu Cảnh Hưng thứ 4 (1743).
- Nguyễn Huy Oánh: xã Lai Thạch, huyện La Sơn. Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ tam danh khoa thi Mậu Thìn niên hiệu Cảnh Hưng thứ 5 (1748).
Trong tám người này thì Phan Cảnh và Nguyễn Huy Oánh là hai Đình nguyên đỗ ở hàng Đệ nhất giáp. Kỳ thi năm Cảnh Hưng thứ 4 (1743) Phan Cảnh đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ tam danh (Thám hoa), cả nước lúc ấy chỉ có Phan Cảnh đỗ Đệ nhất giáp. Nguyễn Huy Oánh cũng tương tự, kỳ thi năm Cảnh Hưng thứ 9 (1752) ông đỗ đầu trúng Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ tam danh. Có nhiều khoa thi triều đình không lấy Đệ nhất giáp, thậm chí có lúc không lấy cả Đệ nhị giáp, chỉ lấy Đệ tam giáp. Trong các khoa thi đó thường các Tiến sĩ Nghệ vẫn nằm trong danh sách đầu bảng. Chẳng hạn kỳ thi năm Vĩnh Hựu thứ hai (1738) triều đình không lấy Đệ nhất giáp, Lê Sĩ Bàng (xã Nội Thiên Lộc, huyện Thiên Lộc) đỗ Đình nguyên, chỉ một mình ông đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân. Khoa thi năm Vĩnh Hựu thứ năm (1739) triều đình cũng không chọn Đệ nhất giáp, Vũ Diễm (xã Thổ Vượng, huyện Thiên Lộc) đỗ đầu trúng Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân. Các năm triều đình không chọn Đệ nhất giáp, nhiều trường hợp Tiến sĩ Nghệ nằm trong số 2 đến 5 người đỗ đầu ở hàng Đệ nhị giáp hoặc Đệ tam giáp. Chẳng hạn kỳ thi năm Quang Hưng thứ ba (1570) Nguyễn Văn Giai (xã Phù Lưu Trường, huyện Thiên Lộc) là một trong bốn người trúng Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân. Kỳ thi năm Quang Hưng 15 (1592) Ngô Trí Hòa là một trong hai người trúng Đệ nhị giáp. Kỳ thi năm Kỷ Hợi (1779) Phạm Nguyễn Du là một trong hai người đỗ Đệ nhị giáp. Kỳ thi năm Cảnh Hưng 21 (1760) triều đình chỉ lấy Đệ tam giáp, Nguyễn Khản (xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân) là một trong 5 người được chọn đỗ.
Có những kỳ thi đặc biệt khi Tiến sĩ Nghệ chiếm số lượng áp đảo so với các địa phương khác. Kỳ thi Chế khoa năm Gia Thái thứ 5 (1577) 4 trên 5 Tiến sĩ được cho khắc bia đều là 4 người Hà Tĩnh: Nguyễn Bật Lương, Lê Phúc Nhạc (Đệ nhất giáp), Hồ Bỉnh Quốc, Nguyễn Hoành Từ (Đệ nhị giáp). Kỳ thi năm Quang Hưng thứ 6 (1583) không lấy Đệ nhất giáp, 3 trên 4 người chọn đỗ đều là người Nghệ: Nguyễn Phong, Trần Phúc Hựu (Hà Tĩnh, Đệ nhị giáp), Nguyễn Văn Thông (Nghệ An, Đệ tam giáp). Kỳ thi năm Quang Hưng thứ 15 (1592) không lấy Đệ nhấp giáp, 2 trên 3 người đỗ đều là người Nghệ An. Điều đặc biệt có một không hai trong kì thi này là cả hai cha con (xã Lý Trai, huyện Đông Thành) cùng đỗ một khoa, con cao hơn cha một bậc: Ngô Trí Hòa, con, 28 tuổi, đỗ Đệ nhị giáp; Ngô Trí Tri, cha, 56 tuổi, đỗ Đệ tam giáp. Sự kiện này rất nổi tiếng vào đương thời, vua Lê Thế Tôn đã tặng bức trướng có 10 chữ vàng cho hai cha con về vinh quy bái tổ “khoa danh thiên hạ hữu, phụ tử thế gian vô” (Đậu đại khoa thì có nhiều người nhưng hai cha con đậu cùng khoa thì chưa thấy bao giờ). Bài ký đề tên Tiến sĩ khoa thi đó đã ghi lại hiện tượng này như một biểu tượng của triều đại thịnh trị, thanh bình: “Ai nấy đều lấy làm sung sướng được trông thấy cảnh đời thái bình, dưới triều vua thánh, có cha con cùng đỗ một khoa thật là thịnh hội và văn minh vậy”.
Cùng một số địa phương có truyên thống hiếu học, khoa bảng Nghệ thường chiếm một tỷ lệ cao. Kỳ thi năm Quang Thuận thứ 7 (1484): 5 người Nghệ trên tổng 27, Hồng Đức thứ 9 (1478) 5/62, Cảnh Thống thứ 5 (1562) 6/61, Hồng Thuận thứ 3 (1511) 4/47, Thuận Bình thứ 6 (1554) 5/13, Quang Hưng thứ 3 (1570) 2/6, Phúc Thái thứ nhất (1643) 2/9, Khánh Đức thứ 2 (1650) 2/8, Khánh Đức thứ 4 (1652) 3/9, Cảnh Trị thứ 2 (1663) 3/13, Vĩnh Trị thứ 5 (1680) 3/19, Chính Hòa thứ 21 (1700) 3/19, Vĩnh Thịnh thứ 8 (1712) 3/17, Long Đức thứ 2 (1733) 4/18, Kỷ Hợi (1779) 3/15.
Các địa phương xứ Nghệ có truyền thống đào tạo Nho học và thi cử đại khoa thường vẫn có con em đại diện trúng Tiến sĩ trong mỗi mùa thi. Các huyện được khắc tên trên bia đá tại Thăng Long trở nên rất quen thuộc trong mỗi kỳ có người Nghệ trúng tuyển. Đứng đầu số lượng Tiến sĩ được khắc bia là huyện Thiên Lộc (Huyện Can Lộc, Hà Tĩnh ngày nay) với 18 người, tiếp sau là Đông Thành (Yên Thành và Diễn Châu, Nghệ An ngày nay) với 15 người, La Sơn (Đức Thọ, Hà Tĩnh ngày nay) 13 người, Thanh Chương 11 người, Nghi Xuân 9 người, Thạch Hà 9 người, Kỳ Hoa (Kỳ Anh và Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh ngày nay) 5 người, Quỳnh Lưu 5 người…Có những xã nổi tiếng truyền thống khoa danh cũng thường được bia đá đề tên: xã Trung Cần (Thanh Chương) 3 người, xã Tiên Điền (Nghi Xuân) 3 người, xã Thu Hoạch (Thiên Lôc) 3 người, xã Lai Thạch (La Sơn) 3 người, xã Hoàn Hậu (Quỳnh Lưu) 3 người, xã Quan Trung (Đông Thành) 2 người, xã Lý Trai (Đông Thành) 2 người, xã Nội Thiên Lộc (Thiên Lộc) 2 người…
Số lượng đỗ cao tại các địa phương này chủ yếu là thuộc về các dòng họ nổi tiếng có truyền thống khoa bảng. Họ Lê ở xã Nội Thiên Lộc (Thiên Lộc) có hai anh em cùng đỗ khoa thi Vĩnh Hựu thứ 2 (1736): anh là Lễ Sĩ Triêm, đỗ Đệ tam giáp, em là Lê Sĩ Bàng đỗ Đệ nhị giáp (năm đó chỉ lấy 1 người đỗ đệ nhị giáp). Họ Ngô ở xã Lý Trai (Đông Thành) 4 đời liên tiếp đỗ 5 Tiến sĩ, cả 5 đều được đề tên tại bia đá. Ngoài cha con Ngô Trí Tri, Ngô Trí Hòa như đã nhắc, còn có Ngô Sĩ Vinh là con Ngô Trí Hòa đỗ Đệ tam giáp năm 1646, Ngô Công Trạc là cháu nội Ngô Sĩ Vinh đỗ Song nguyên (Hội nguyên-Đình nguyên, đệ tam giáp) năm 1694, Ngô Hưng Giáo là em Ngô Công Trạc đỗ đệ tam giáp năm 1710. Họ Nguyễn Trọng ở xã Trung Cần (Thanh Chương) có cha là Nguyễn Trọng Thường đỗ đệ tam giáp năm 1712, con là Nguyễn Trọng Đương đỗ đệ tam giáp vào năm 1769, 3 kì thi sau Nguyễn Trọng Đường là cháu đích tôn của Nguyễn Trọng Thường, cháu gọi Trọng Đương bằng chú cũng đỗ đệ tam giáp năm 1779. Ba đời họ Nguyễn Trọng đều được triều đình cử đi sứ nhà Thanh nên tại nhà thờ họ ở xóm Khoa Trường, xã Trung Cần vẫn còn bức hoành phi đề 5 chữ “Tam thế ngũ hoàng hoa” (ba đời, năm lần được đi sứ) tương truyền do vua Thanh đề tặng.
Họ Lê ở xã Quan Trung (Đông Thành) có cha là Lê Kính đỗ Đệ tam giáp năm 1628, con là Lê Hiệu đỗ Đệ nhị giáp năm 1643. Cả hai cha con khi làm quan đều là Thượng thư đồng triều. Họ Nguyễn ở xã Hoa Lâm (Nam Đường) có cha là Nguyễn Phùng Thì đỗ Đệ tam giáp năm 1715, con là Nguyễn Bá Quýnh cũng đỗ Đệ tam giáp năm 1733. Họ Phan ở xã Thu Hoạch (Thiên Lộc) có cha là Phan Cận đỗ Đệ tam giáp năm 1754, con là Phan Huy Ích đỗ Đệ tam giáp năm 1775, em của Phan Huy Ích là Phan Huy Ôn cũng đỗ Đệ tam giáp hai kì thi sau (1779). Họ Nguyễn ở xã
Tiên Điền (Nghi Xuân) có cha là Nguyễn Nghiễm đỗ Đệ nhị giáp năm 1731, con là Nguyễn Khản đỗ Đệ tam giáp năm 1760.
Trong các họ xứ Nghệ thì họ Hồ ở Nghệ An (với hai nhánh chính là họ Hồ ở Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu và họ Hồ ở Thổ Thành (Yên Thành) là họ có thành tích khoa bảng đông đảo nhất. Theo số liệu của Đào Tam Tỉnh1 kể từ nhà Trần đến Nguyễn họ Hồ có tổng cộng 14 Tiến sĩ. Người mở đầu truyền thống khoa bảng dòng họ này là Trạng nguyên Hồ Tông Thốc đời Trần. Hiện tại trong văn bia Quốc tử giám có 5 Tiến sĩ họ Hồ: đầu tiên là Hồ Bỉnh Quốc đỗ Đệ nhị giáp chế khoa xuất thân năm 1577 (Hồ Bỉnh Quốc quê ở xã Bình Lãng, huyện Thiên Lộc, Hà Tĩnh. Gốc gác của ông vốn là họ Hồ Quỳnh Lưu, vì ông nội là Hồ Tông Thành đã chuyển từ Quỳnh Lưu sang lập nghiệp ở Nghi Xuân, Hà Tĩnh), sau đó là Hồ Sĩ Dương (đời thứ 9) đỗ Đệ tam giáp năm 1652, Hồ Phi Tích đỗ Đệ nhị giáp năm 1700, Hồ Sĩ Tân đỗ Đệ tam giáp năm 1721, Hồ Sĩ Đống đỗ Đệ nhị giáp năm 1772 (Hội nguyên).
Trong hơn 100 Tiến sĩ Nho học Nghệ An có tên trên văn bia Văn Miếu, có 4 người Phan Huy Chú chọn ra để xếp vào mục Nhân vật chí trong Lịch triều hiến chương loại chí, coi như những gương mặt tiêu biểu nhất của trí thức xứ Nghệ có đóng góp cho quốc gia. Đó là Dương Trí Trạch, Nguyễn Văn Giai, Nguyễn Nghiễm, Ngô Trí Hòa. Nhìn chung đội ngũ khoa bảng Nghệ thời Lê sơ Lê Trung hưng chủ yếu đều đóng góp về phương diện quan trường, giữ các vị trí quan trọng trong quan nghạch triều đình. Số lượng các nhà khoa bảng có trước tác tiếng tăm để lại cho đời không nhiều (Phạm Nguyễn Du, Phan Huy Ích, Nguyễn Huy Oánh, Nguyễn Văn Giai…). Một khi đã kết thúc giai đoạn học tập quyết khoa, thì làm quan, gánh vác chính sự là bổn phận chính của họ. Nhìn từ phương diện này, có thể nói khoa cử xứ Nghệ đã cung cấp cho chính quyền phong kiến trung ương một đội ngũ quan lại cao cấp dồi dào, có tài năng và chí tiến thủ để đảm đương các loại công việc quản lý-hành chính-giáo dục đương thời.
Tài liệu tham khảo chính:
1. Văn bia đề danh tiến sĩ Việt Nam. Trịnh Khắc Mạnh. Nxb KHXH 2006
2. Văn bia Văn miếu Quốc Tử Giám. Đỗ Văn Ninh. Nxb Văn hóa thông tin, 2000.
3. Giáo dục và khoa cử Nhoc học thời Lê ở Việt Nam qua tài liệu Hán Nôm. Đinh Khắc Thuân. Nxb KHXH 2009.
4. Khoa bảng Nghệ An. Đào Tam Tỉnh. Nxb Nghệ An 2000.
5. Khoa cử và các nhà khoa bảng triều Nguyễn. Phạm Đức Thành Dũng. Nxb Thuận Hóa 2000.






1 Đinh Khắc Thuân. Giáo dục và khoa cử Nho học thời Lê ở Việt Nam qua tài liệu Hán Nôm. Nxb KHXH 2009, trang 81.
1 Kỳ thi Đình không lấy đỗ trật mà chỉ định cao thấp cho thí sinh đỗ thi Hội thông qua việc đặt Tam giáp: Đứng đầu là Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ gồm Đệ nhất giáp đệ nhất danh (Trạng nguyên), Đệ nhất giáp đệ nhị danh (Bảng nhãn), Đệ nhất giáp đệ tam danh (Thám hoa); đứng thứ hai là Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp); đứng thứ ba là Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân.
2 Các kì thi Tiến sĩ chia ra làm Thường khoa và Chế khoa. Thi Hội thường được tổ chức đều đặn trong các năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, gọi là Thường khoa. Chế khoa là các kỳ thi đặc biệt không theo định lệ do nhà vua đứng ra tổ chức để tuyển dụng người hiền tài. Kỳ thi Chế khoa thời Lê Trung hưng không lấy Đệ tam giáp mà chỉ lấy Đệ nhất giáp và Đệ nhị giáp (Đệ nhất giáp Chế khoa xuất thân và Đệ nhị giáp Đồng chế khoa xuất thân).
1 Đào Tam Tỉnh. Khoa bảng Nghệ An. Nxb Văn hóa thông tin, 2001, trang 161.

Nguyễn Sĩ Dũng, (Tiến sĩ Giáo dục học, Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội.)

 


Ông Nguyễn Sĩ Dũng
Sinh năm 1955 tại Thanh Chương, Nghệ An, Nguyễn Sĩ Dũng là con đầu một gia đình 8 người con, có bố là giáo viên dạy văn, mẹ là nhân viên phục vụ của Trường Y tế. Ông thi đạt điểm tuyệt đối Khoa Văn ,Trường đại học Tổng hợp, được Nhà nước cử đi du học tại Liên xô cũ. Tốt nghiệp đại học chuyên ngành tiếng Anh loại xuất sắc, ông được giữ lại làm nghiên cứu sinh về Giáo dục học.
Trước khi giữ cương vị Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, TS. Nguyễn Sĩ Dũng đã có 6 năm làm Giám đốc Trung tâm Thông tin, Thư viện và Nghiên cứu khoa học của Văn phòng Quốc hội.
Dưới đây là buổi đối thoại của ông Nguyễn Sĩ Dũng…
Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng có chức danh là Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, nhưng trong lòng công chúng báo chí, trong cái nhìn của nhiều người làm báo, suốt thời gian qua, ông còn là một nhà phản biện xã hội lúc nào cũng khúc chiết, trí tuệ và đầy tâm huyết, những tâm sự, những luận điểm nóng hổi, tính thời sự của ông thậm chí còn được một số cơ quan báo chí đưa ra thành diễn đàn để đông đảo độc giả cùng bàn luận.
Ông luận về nhiều vấn đề quốc gia đại sự với một tinh thần thượng tôn khoa học, sắc sảo, đầy trách nhiệm công dân. Ông luôn chủ trương ủng hộ cái mới, tôn vinh giới trẻ và sức trẻ, song cũng không quên trách nhiệm của một người làm khoa học quản lý xã hội. Trong mắt tôi, ông có cái tráng chí của kẻ sĩ đang hành đạo, một thuyết khách thời cổ mang nhiều khát vọng “Rời lều tranh xuống núi”, dâng kế giúp đời. Công việc ấy, xã hội ngày này gọi là phản biện xã hội, một đòn bẩy cho sự phát triển của bất kỳ quốc gia nào.
Đầu xuân 2007, Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng đã dành cho độc giả Tạp chí truyền hình cuộc trò chuyện tâm huyết như là một cuộc phản biện với nhà báo TS. Đậu Ngọc Đản.

Hội nhập, trồng cây gì, nuôi con gì… cũng được!
TS Đậu Ngọc Đản – TBT Tạp chí Truyền hình: Năm qua, ông đã đưa ra nhiều “phản biện ” cho nhiều vấn đề của xã hội. Với nhiều người, ông là một hiện thân của tĩnh thần đổi mới, dám nói, dám mổ xẻ vấn đề, cả ở những góc mà nhiều người e ngại nói ra. Trước hết, chúng ta trở lại những khái niệm sơ đẳng nhất theo ông, thế nào là cái mới, là người trẻ? Và chuyện này gắn với WTO như thế nào?
TS Nguyễn Sĩ Dũng: Mới là sự biến đổi để phát triển ở mức cao hơn của cái cũ. Trẻ là giai đoạn phát triển đi lên của con người. Trẻ và mới thường gắn liền với nhau. Cảm nhận cái mới nhanh thì là trẻ. Bất cứ lúc nào chúng ta cảm thấy băn khoăn, lo ngại về cái mới, thì lúc đó có nhiều khả năng là chúng ta đang phải đối mặt với tuổi già. Ai cũng thế, trước một công việc mới, một sản phẩm mới, một tiện ích mới (giả dụ việc dùng điện thoại di động để làm thẻ thanh toán) mà bạn cảm thấy ngại, thì hãy coi chừng: tuổi già đang ập đến. Hay nếu như một kiểu quần áo, một màu tóc của lớp trẻ đang vào mốt, mà bạn lại cảm thấy “chướng”, thì không khéo bạn đã…về già! Nhiều khi không phải vì lớp trẻ “hỏng”, mà chỉ vì lớp trẻ nắm bắt xu thế của thời đại nhanh hơn. Có thể, sau một thời gian bạn sẽ thấy cách ăn mặc của lớp trẻ cũng hay. Như vậy thì bạn vẫn chưa già (mặc dù chắc chắn là không còn là quá trẻ). Dầu sao, bạn cũng đã cảm nhận xu hướng của thời trang chậm hơn một nhịp. Tất nhiên, vẫn có những người sẽ luôn luôn thấy chướng. Họ sẽ phải sống với sự khó chịu như vậy cho đến khi mốt thời trang thay đổi. Điều an ủi lớn ở đây là mọi mốt thời trang rồi cũng sẽ phải thay đổi. Thực ra, già không phải là một khuyết điểm, già chỉ là một sự thật không vui. Ngoài ra, tuổi tác không phải bao giờ cũng đồng nghĩa với cái sự già cả. Người ta nhiều khi chỉ “già tóc, già râu”… Trong mối tương quan giữa già và trẻ như vậy, thì rõ ràng là khi gia nhập WTO, cơ hội sẽ mở ra cho lớp trẻ nhiều hơn. Vì hội nhập trước hết là một công cuộc đổi mới. Tư duy toàn cầu là mới, luật chơi của thế giới là mới, kinh tế tri thức là mới, thế giới phẳng” là mới… Không làm chủ cái mới, ít có cơ hội để thành công. Ngoài ra, chúng ta cũng đang đừng trước một cuộc cách mạng về khái niệm. Người tiêu dùng, khách hàng phải là tâm điểm của mọi chính sách kinh tế, chứ không hẳn là việc “trồng cây gì, nuôi con gì”? Trồng cây gì, nuôi con gì mà chẳng được, nếu bạn bán được với giá cao hơn ở trên thị trường?! Muốn bán được giá cao thì chất lượng là quan trọng, nhưng thương hiệu còn quan trọng hơn. Mà thương hiệu thì cũng phải đầu tư, phải quản trị như một tài sản. Người chưa tán đồng quan điểm của tôi tức là họ… “anh minh” hơn tôi
TS Đậu Ngọc Đản: Sẽ còn nhiều chuyện để bàn về WTO. Tôi muốn nói chung về rất nhiều ý kiến của ông trên công luận, báo chí suốt thời gian qua, tôi và nhiều người cũng tán đồng vì tính thuyết phục và hữu ích của nó, thực tế trong cuộc sống cũng đã chứng minh nhiều điều ông nói là đúng. Nhưng mà không phải là ai cũng tán đồng cả. Ông nghĩ sao?
TS Nguyễn Sĩ Dũng: Tôi nghĩ không phải ai cũng tán đồng cả là chuyện bình thường, ai cũng tán đồng mới là chuyện không bình thường. Trước hết, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng lên chính kiến của chúng ta: lợi ích, nguồn gốc, kinh nghiệm, giáo dục, hệ thống giá trị, hệ thống khái niệm, hệ thống công cụ để tư duy… Những yếu tố nói trên là rất khác nhau ở những người khác nhau. Vì vậy, chúng ta có thể đồng ý với nhau về nhiều điều, nhưng rất khó đồng ý với nhau về tất cả mọi điều. Ngoài ra, sự đa dạng về chính kiến và niềm tin phản ánh một mức độ phát triển cao hơn của đời sống xã hội. Và đó là điều rất đáng mừng. Sau nữa, cách tiếp cận của tôi chỉ là một trong những cách tiếp cận vấn đề. Những người có quan điểm chưa tán đồng, hoặc là phản đối tôi thì vẫn có thể sáng suốt hơn tôi. Từ góc độ một nhà nghiên cứu, tôi có thể nêu những vấn đề mà tôi hiểu. Nhưng mà từ góc độ một chính khách , thì cái bạn hiểu là một chuyện, còn cái bạn có thể làm lại là một chuyện khác. Chính trị là nghệ thuật của những điều có thể. Bạn muốn rất nhiều điều, nhưng bạn chỉ có thể làm được những điều có thể. Việc xác định được đâu là điều có thể lại đòi hỏi sự anh minh nhiều hơn là sự thông minh. Tôi suy đoán rằng những người chưa tán đồng quan điểm của tôi là những người anh minh hơn tôi. Trở lại với chuyện lớp trẻ, lớp già và WTO, có thể lớp trẻ thấy được luật chơi khi vào WTO nhanh hơn, nhưng vấn đề là cả dân tộc này sẽ tham gia vào cuộc chơi như thế nào. Làm thế nào để không loại bất kỳ ai ra khỏi cuộc chơi? Trả lời câu hỏi này đòi hỏi không chỉ sự thông minh của khối óc, mà còn cả sự anh minh của con tim Vào WTO, lớp trẻ chắc chắn sẽ có được nhiều cơ hội. Song, đối với lớp người đã sinh ra lớp trẻ thì sao? Cứ nghĩ mà xem, công cuộc đổi mới được toàn dân ủng hộ là vì thành tựu của đổi mới ai cũng được hưởng cho dù ở những mức độ khác nhau. Công cuộc hội nhập sắp tới có làm được như vậy hoặc khá hơn không?
TS Đậu Ngọc Đản: Trong tư duy của xã hội, người ta nghĩ đến một xu thế đáng suy nghĩ, rằng: cứ hễ cái gì trẻ là ủng hộ. Chưa hẳn đã nên một chiều như vậy. Cái thiếu tương đối phổ biến của không ít người trẻ hiện nay là: tiếp cận nhanh với nền “văn minh kỹ trị”, song nhiệt huyết với cộng đồng, trách nhiệm xã hội chưa cao…
TS Nguyễn Sĩ Dũng: Tôi cho rằng ủng hộ lớp trẻ là ủng hộ tương lai. Tương lai không đơn giản là ngày mai rồi sẽ đến. Tương lai là những thách thức khôn cùng. Có người đã từng nói vui rằng: “Hãy chúc cho lớp trẻ sức khoẻ và sự may mắn, vì họ sẽ là những người phải trả nợ thay cho chúng ta”. Rõ ràng, chúng ta đang để lại cho con cháu không chỉ giang sơn đất nước, mà còn cả các khoản nợ. Để nợ lại cho con cháu là chuyện cực chẳng đã, nhưng chiến tranh sẽ biện hộ một phần cho chúng ta. Còn lớp trẻ? Họ chắc chắn đang ở vào một vị thế khó khăn hơn: họ không còn có cơ hội để đổ lỗi cho chiến tranh. Họ lại còn phải đối mặt với cạnh tranh toàn cầu. Còn về việc nhiệt huyết cộng đồng và tránh nhiệm xã hội của lớp trẻ chưa cao, theo tôi nên hiểu đó chỉ là một sự cảnh báo hơn là một sự khăng định. Rõ ràng, đang có chuyện “con sâu làm rầu nồi canh” hiện tượng đua xe trái phép, hiện tượng “cứu nét”, hiện tượng lắc suốt đêm… không nhiều nhưng dễ thấy. Những hiện tượng như vậy có thể chỉ là sự biểu hiện ra bên ngoài của những vấn đề lớn hơn mà lớp trẻ đang phải đối mặt. Chúng ta nên quan tâm tìm hiểu xem đó là những vấn đề gì. Việc này khó hơn, nhưng hữu ích hơn là việc phê phán lớp trẻ. Ngoài ra, cũng phải thấy rằng lớp trẻ đứng đằng sau rất nhiều, nếu như không phải là đa số các phong trào thiện nguyện trong cả nước. Phong trào “mùa hè xanh”, phong trào “Hiến máu nhân đạo”, phong trào quên góp tiền ủng hộ đồng bào bị bão lụt, hay phong trào quyên góp tiền xây Trạm xá Đặng Thùy Trâm (của Báo Tuổi trẻ)… đều là các phong trào của lớp trẻ cả đấy thôi. Mỗi năm, thậm chí những người Việt sống ở nước ngoài (chủ yếu là những người trẻ tuổi vì những người già thì không có điều kiện để làm như vậy) đã gửi về cho trong nước khoảng trên dưới 4 tỷ USD. Không có gì có thể ra lệnh cho họ làm như vậy ngoài nhiệt huyết cộng đồng và trách nhiệm xã hội. Mặc dù, hiện tượng ích kỷ, thờ ơ với lợi ích của cộng đồng trong lớp trẻ là cần phải bị phê phán, hoàn toàn không có lý do để chúng ta bi kịch hóa vấn đề này. Đi đêm với nhau thì gặp ma cùng nhau
TS Đậu Ngọc Đản: Như ông từng nói nhiều về cái đáng sợ của “tư bản thân hữu” như một thứ mafia khi chính trị – kinh tế đứng về với nhau để mưu lợi bất chính. Mặc dù trong bối cảnh hiện nay, để “vượt khó” không thể không tôn vinh doanh nghiệp. Song nếu “chiều chuộng” giới doanh nhân quá thì cũng không phải là một điều hay ho gì.
TS Nguyễn Sĩ Dũng: “Chiều chuộng” nhiều khi rất khó phân biệt với nịnh bợ, đặc biệt là khi giới doanh nhân thực sự có quyền lực. Thế nhưng trừ phi có được mối quan hệ thân hữu với công quyền, giới doanh nhân, đặc biệt là giới doanh nhân thuộc dân doanh ở nước ta chưa có quyền lực như vậy. Ngược lại, họ đang là nạn nhân của vô số những sách nhiễu, vòi vĩnh không đáng có. Đấu tranh để giải phóng họ khỏi những thứ nói trên không biết có nên được gọi là sự “chiều chuộng” hay không? Thật ra, trong lịch sử ở nước ta trước đây cũng như trong thời gian vừa qua, làm quan thì dễ hơn và sướng hơn làm doanh nhân. Điều này khuyến khích người ta làm quan hơn là làm doanh nhân. Thế nhưng, ai cũng làm quan cả thì lấy đâu ra của cải, lấy đâu ra sự giàu có? Tôn vinh doanh nhân trong bối cảnh như vậy là rết cần thiết. Tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nhân làm kinh tế còn cần thiết hơn. Tôn vinh doanh nhân, tạo điều kiện cho doanh nhân thì không phải là xác lập mối quan hệ thân hữu với doanh nhân. Chính khách ở các nước phát triển, nếu gắn kết với doanh nghiệp thì sẽ là huỷ hoại hình ảnh công chúng của mình. Ở nước ta – rồi cũng sẽ như vậy. Sự gắn kết giữa chinh quyền và doanh nghiệp là một gắn kết giữa quyền lực chính trị với quyền lực kinh tế. Điều này sẽ rất rủi ro cho người dân và cho đất nước. Mọi sự đi đêm với nhau giữa chính quyền và doanh nghiệp đều dẫn đến việc cùng nhau gặp ma thôi. Thay vì tiếng nói của người dân, tiếng nói của doanh nghiệp mới đến được với công quyền. Thay vì nguyện vọng của người dân, nguyện vọng của doanh nghiệp mời được chính quyền quan tâm đáp ứng. Mà như vậy, những người nghèo, những người không có điều kiện để tiếp cận chính quyền sẽ ngày càng thiệt thòi hơn.
TS Đậu Ngọc Đản: Và, để tránh được điều đó, chúng ta cần đề cao dân chủ.
TS Nguyễn Sĩ Dũng: Về nguyên tắc, chỉ khi những người dân nghèo có được tiếng nói vào các quyết sách của nhà nước, thì ý nguyện và lợi ích của họ mới được quan tâm, cân nhắc đầy đủ. Vì vậy, dân chủ là rất cần thiết cho sự phát triển bền vững và công bằng. Triết lý của thị trường là kẻ mạnh phải thắng. Còn triết lý của dân chủ là kẻ yếu phải có cơ hội. Dân chủ là việc tôi và anh đều có một lá phiếu bầu như nhau và vì vậy có quyền lực chính trị như nhau. Tôi chỉ có một lá phiếu, nhưng thiếu nó, chưa chắc anh đã có thể trở thành tổng thống. Và đó chính là quyền lực chính trị của tôi.
TS Đậu Ngọc Đản: Theo quan niệm của ông, làm sao để tạo ra được thế hệ mới kế tục được con đường sự nghiệp của cha anh chúng trong thời đại hội nhập này? Nói thẳng ra là, lớp trẻ bây giờ có nhiều người sống cơ hội, chạy chọt, làm thế nào để có nhiều người tài mà lại có cái “đức” biết trăn trở với quốc dân đồng bào?
TS Nguyễn Sĩ Dũng: Theo tôi có hai cách là qua giáo dục và bằng việc nêu gương. Tôi vẫn không tin là lớp trẻ bây giờ có nhiều người sống cơ hội, chạy chọt. Nếu nhiều người trẻ cơ hội, chạy chọt, thì đã có nhiều người trẻ được làm quan to. Đố ai chứng minh được là như vậy đấy. Còn để cho nhiều người vừa có tài, vừa có đức xuất hiện, thì phải có cạnh tranh trung thực để tạo ra cầu về người có tài, có đức. Trường Đại học tốt nhất là trường mà sinh viên ra trường được tuyển dụng nhiều nhất, nhanh nhất và được trả lương cao nhất.
TS Đậu Ngọc Đản: chúng ta đang bàn đến những vấn đề to tát về dân chủ, hội nhập và cạnh tranh. Liệu người dân nghèo, ở vùng xa có hiểu được những câu chuyện này? Và họ có thực sự tham gia vào kiến tạo chính sách, cơ chế như ông mong muốn?
TS Nguyễn Sĩ Dũng: Những người dân nghèo sẽ hiểu từ kinh nghiệm và nhu cầu thực tiễn của họ. Nghệ thuật giết rồng là cao siêu, nhưng không phải bao giờ cũng có ích. Mà những chuyện chúng ta bàn cãi nói trên không khéo chỉ là một thứ nghệ thuật giết rồng. Đối với người dân, điều quan trọng là làm sao có việc làm và thu nhập, con cái được học hành, ốm đau được chăm sóc sức khoẻ. Bảo đảm những điều nói trên là rất quan trọng để những người dân nghèo hội nhập thành công. Mà muốn bảo đảm thì những người dân phải được trực tiếp tham gia vào quá trình hình thành chính sách và ban hành quyết định. Mở rộng dân chủ cơ sở và dân chủ tham gia là rất cần thiết trong tình hình hiện nay.
TS Đậu Ngọc Đản: Ông nghĩ sao về vấn đề muôn thuở và thu hút nhiều sự quan tâm bậc nhất của chúng ta hiện nay: giáo dục. Ông suy nghĩ gì về vấn đề thu hút và sử dụng người giỏi của Việt Nam ta?
TS Nguyễn Sĩ Dũng: Giáo dục được quan tâm bậc nhất là vì giáo dục là hệ trọng bậc nhất. Cuộc cạnh tranh toàn cầu mà dân tộc ta đang phải đối mặt, xét về bản chất là cuộc cạnh tranh về kỹ năng và tri thức. Thiếu một nền giáo dục hiệu năng và hiện đại chúng ta không thể có đủ năng lực để cạnh tranh. Về việc thu hút người giỏi của Việt Nam, theo tôi, như đã nói ở trên, điều quan trọng là phải tạo ra được cầu về người tài. Nhiều người Việt giỏi giang vẫn đang làm việc ở nước ngoài chủ yếu là vì nền kinh tế chưa có nhu cầu về những kỹ năng và kiến thức mà họ có. Nói Nhà nước chưa tạo điều kiện thế này, thế kia để thu hút người tài nhiều khi cũng oan cho… Nhà nước. Tuy nhiên, chúng ta đang hội nhập, với việc kinh tế phát triển, cầu về người tài sẽ xuất hiện ngày càng nhiều. Mà lúc ấy, cung lại có thể là một vấn đề. Ví dụ, sau khi lntel xây dựng xong dự án của mình, không biết nước ta có đủ hàng ngàn kỹ sư tin học trình độ cao để họ tuyển dụng hay không? Rõ ràng, giáo dục đang là nền tảng quan trọng nhất của kinh tế. Mà như vậy thì phải có một cuộc cách mạng trong hệ thống giáo dục. Theo tôi, các nhà tuyển dụng tư nhân sẽ làm nên một cuộc cách mạng như vậy. Khi cơ chế thị trưởng được áp đặt thì mọi chuyện sẽ trở nên rõ ràng, sòng phẳng: trưởng đại học nào mà Sinh viên học xong được tuyển dụng nhiều nhất, nhanh nhất và được trả lương cao nhất là trường tốt nhất. Tiếp theo, trường phổ thông cấp ba nào mà có nhiều học sinh được trưởng Đại học kể trên tuyển vào nhiều nhất là trường phổ thông tốt nhất. Trường cấp hai nào được trường cấp ba kể trên tuyển vào nhiều nhất là trường cấp hai tốt nhất. Muốn làm được điều này phải có sự phi tập trung hoá nhất định trong giáo dục: Bộ trả bớt quyền cho trường, trướng trả bớt quyền cho thầy, thầy trả bớt quyền cho trò. Trò phải là khách hàng là nhân vật trung tâm của hệ thống.

TIẾN SĨ TOÁN HỌC TRẺ NHẤT VIỆT NAM LÀ NGƯỜI XỨ NGHỆ

TIẾN SĨ TOÁN HỌC TRẺ NHẤT VIỆT NAM LÀ NGƯỜI XỨ NGHỆ

Từ một cậu học trò từng nơm nớp lo sợ khi phải học trong lớp “chọn” cùng với những bạn học khá "cứng cựa"… Thế nhưng, Nguyễn Thịnh - cậu học trò Xứ Nghệ ngày ấy đã từng bước vươn lên để trở thành Tiến sĩ toán học trẻ nhất Việt Nam (thời điểm bảo vệ thành công luận án). 
Con đường trở thành tiến sĩ

Dấu ấn đầu tiên ghi nhận những đột phá của Thịnh trên con đường chinh phục môn Toán, đó là sau 4 năm học ở lớp chọn, Thịnh đã băng băng về đích với vị trí nằm trong tốp dẫn đầu toán của lớp và đến lớp 5 cậu đã 2 lần đứng ở bục cao nhất của kỳ thi học sinh giỏi toán cấp thành phố. Kỳ tích mà Thịnh tạo ra chưa dừng lại ở đó, năm 1998 Thịnh lại tiếp tục khẳng định mình khi đỗ vào lớp cử nhân Đại học Tài năng – Đại học Quốc gia Hà Nội.

 
Bước vào một môi trường mới, với những thách thức mới, cậu học trò xứ Nghệ đem theo truyền thống hiếu học của gia đình và quê hương lại lao vào học, và sau tốt nghiệp cậu được đặc cách lên thẳng nghiên cứu sinh mà không phải qua thạc sĩ. Trở thành nghiên cứu sinh của trường, Nguyễn Thịnh vẫn không thôi nung nấu niềm đam mê với toán học, và sau nhiều năm nghiên cứu, làm đồ án, đề tài bảo vệ luận án tiến sĩ mang tên “Toán tử ngẫu nhiên và tích phân ngẫu nhiên trong không gian Banach” của Nguyễn Thịnh đã được bảo vệ thành công vào năm 2006 (khi đó anh vừa tròn 26 tuổi), anh trở thành tiến sĩ toán học trẻ nhất Việt Nam.          

Và những mong ước
 
Bên cạnh yếu tố tự thân của Nguyễn Thịnh, còn phải kể đến truyền thống gia đình và quê hương đã hun đúc cho anh tinh thần hiếu học.

Sinh ngày 18/1/1980, ở một xóm lao động gần bến xe thành phố Vinh, thân phụ anh, ông Nguyễn Hữu Đông là con cháu dòng họ Nguyễn Hữu (ở xã Thanh Văn, huyện Thanh Chương, Nghệ An), có truyền thống khoa bảng, với hơn 20 vị tiến sĩ qua các triều đại.

Đến nay, sau 5 năm đứng bục giảng, vị tiến sĩ trẻ tuổi vẫn còn ấp ủ nhiều ước mơ, dự định. Bên cạnh những lo toan cơm áo mà anh vẫn canh cánh “mong muốn giới nghiên cứu khoa học sẽ được trả mức lương đảm bảo cuộc sống và được đầu tư để chuyên tâm vào nghiên cứu khoa học”, Nguyễn Thịnh còn mong muốn phát triển, mở rộng đề tài cho có khả năng ứng dụng vào cuộc sống hơn nữa.

Ước mơ đó của anh đang ngày càng đến gần khi vào tháng 3 năm 2008 anh đã sang Đại Học Mỏ Paris (Pháp) để tham gia dự án dùng kiến thức toán học để giải quyết các vấn đề cụ thể trong lĩnh vực tài chính.

Nguyễn Sỹ Xung, vị tướng Tây Sơn 200 năm nằm trong ống

http://baonghean.vn/intrang.asp?id=77510
http://www.thuvienbinhdinh.com/diachi/uniisis.asp?action=view&PID=896
Tôi đặt lên bàn giáo sư, nhà sử học Phan Huy Lê bộ ảnh chụp các đạo sắc của vua Lê Hiến Tông, Thái Đức Nguyễn Nhạc, Quang Trung Nguyễn Huệ phong cho tướng Nguyễn Sỹ Xung. GS Phan Huy Lê không giấu được vẻ vui mừng, ông nói: "Tôi chưa từng nghe nói đến viên tướng này". Sau khi xem kỹ các tài liệu, GS nói tiếp: "Rất quý, rất quý. Anh nên công bố ngay, công bố ngay".

200 năm nằm trong ống
Tháng 3 - 1997, tôi cùng Nguyễn Sỹ Văn, một người bạn về quê anh ở xã Thanh Lương, huyện Thanh Chương, Nghệ An. Tiếng quê Nghệ, nhưng 43 tuổi Sỹ Văn mới biết quê cha đất tổ. Họ tộc vẫn còn một cụ bà 94 tuổi, con dâu đầu cụ ấm Tiết (quan tham tri tuần phủ thời Tự Đức). Ông trưởng họ, một nông dân lam lũ, thay bộ đồ tươm tất, dẫn chúng tôi lên thượng đường nhà thờ đại tôn, một kiến trúc có từ năm 1780, dựng theo kiểu "nhất gian, nhị hạ", các cột gỗ chạm long, li, qui, phượng. Ông trưởng họ lấy từ trên trang thờ xuống một ống quyển còn dấu sơn son, thắp ba nén nhang, khấn vái rồi từ từ mở nắp. Ông chật vật rút ra một cuộn giấy báo cũ, màu vàng, có in nổi hình rồng, chữ Nho viết mực tàu hãy còn sắc nét. Đặc biệt con ấn đỏ gần như vẫn tươi nguyên. Đó là các đạo sắc của vua Lê Hiến Tông, Thái Đức Nguyễn Nhạc, Quang Trung Nguyễn Huệ.
Một đạo sắc của vua Quang Trung được dịch: Sắc cho Nguyễn Sỹ Xung, người xã Hoa Lâm, chức vụ trung tướng phó chiến, đã phò vua tập trung huy động quân lính, luyện tập giỏi, chỉ huy anh dũng, trung khiết, dũng cảm, nay phong tráng tiết tướng quân. Tái thưởng sắc, Quang Trung năm thứ 5 (ngày 5-10-1792). Đây là những bản dịch thoát, có chỗ chưa chuẩn, theo GS Phan Huy Lê, dịch đúng thì đạo sắc này của Quang Trung gọi ông Nguyễn Sỹ Xung là trung tả cơ phó chiến và đạo sắc này đã chuẩn ban ông chức trung uý (một cấp hàm cao cấp trong quân đội Quang Trung ), và gia phong ông hiệu anh dũng tướng quân và phong cho ông Xung tước hầu.
Ông trưởng họ kể: các đạo sắc này được các bậc tiền bối bỏ trong ống quyển, giấu trong một xà ngang đục lộng của nhà thờ họ, vì ông Xung phải giấu tung tích khi nhà Gia Long lấy lại ngôi nhà Tây Sơn. Mãi tới năm 1989, họ Nguyễn Sỹ tu bổ nhà thờ, xà nhà gỗ mít sau 200 năm mục rớt xuống, rơi ra cái ống quyển quý giá đó. Mấy năm sau, họ có tiền bèn thuê dịch thêm bản gia phả và cho dịch luôn các đạo sắc này mới phát hiện ra một ông tướng Nguyễn Sỹ Xung từng làm vẻ vang cho dòng họ.

Tướng Nguyễn Sỹ Xung và trận Đống Đa năm Kỷ Dậu.
Cũng tháng 3 - 1997, tôi ra Hà Nôi, được một người bạn tên là Nguyễn Sỹ Dũng công tác ở Văn phòng Quốc hội cho mượn bản dịch gia phả và cho coi tờ trình của xã Thanh Lương xin công nhận nhà thờ Nguyễn Sỹ là "di tích lịch sử văn hóa". Tờ trình viết: Danh tướng Nguyễn Sỹ Xung tức Nguyễn Sỹ Lạng (1740-1826), tham gia 18 năm trong quân đội triều Hậu Lê. Giữ chức thứ hai trong sáu chức quân đội. Ông được vua Lê Hiến Tông phong hai đạo sắc năm Nhâm Dần. Khi vua Lê Chiêu Thống nối ngôi, rước quân Thanh về đô hộ nước ta, ông trút bỏ xiêm áo, về quê, theo nghĩa quân Tây Sơn. Ông được Thái Đức Nguyễn Nhạc thưởng sắc năm 1789. Sau đó được Quang Trung chọn làm ưu binh cận thần, giúp chiêu tập binh sĩ vùng Nghệ An. Cuộc hành quân từ Phú Xuân và từ Nghệ An ra đánh Ngọc Hồi (năm Kỷ Dậu), ông đã vạch ra chiến thuật hành quân với tốp lính ba người. Cứ một người nằm võng, hai người khênh, khi thấm mệt, người nằm khênh thay cho một trong hai người kia...Người thảo tờ trình này là ông Nguyễn Sĩ Mãi. Ông Mãi đang có tham vọng noi gương cụ ấm Tiết viết tiếp gia phả họ Nguyễn Sỹ. Ông Mãi cho biết: về cuộc hành quân thần tốc năm Kỷ Dậu, chủ yếu ông nghe các cụ kể lại, các cụ nói: "Họ nhà ta trước có một ông là tướng thời Tây Sơn, và chính ông là người đã góp mưu giúp vua Quang Trung chuyển quân nhanh ra thành Thăng Long".
Theo GS Phan Huy Lê, thời Tây Sơn gần như không có chính sử. Thời Nguyễn có chép lại nhưng rất ít. Trong điều kiện đó, lịch sử truyền khẩu rất có ý nghĩa, nhưng nó chỉ thuyết phục các nhà khoa học khi kèm theo các chứng cứ khác. Về Nguyễn Sỹ Xung, gia phả viết: Nghe chú bác thuật lại, cố Lãng (tức Nguyễn Sỹ Xung) tính tình dũng cảm, đi lính lập công, được vua Lê Cảnh Hưng phong tráng liệt tướng quân. Gặp quan Tây Sơn, có lệnh hiệp đồng vua Quang Trung ra Bắc đánh quân Thanh, lấy lại thành Thăng Long. Thời Nguyễn, ông ẩn ở rừng Quảng Nam, bốn năm sau mới về...
Chứng cứ quan trọng và có lẽ là trực tiếp nhất là đạo sắc năm Kỷ Dậu của vua Quang Trung sắc cho ông, thì theo ông trưởng họ, do giấy bản thời Quang Trung quá mỏng, lại để lâu ngày, khi lấy ra (1989) đã mục nát. Ông Mãi nói: "Lúc đó đạo sắc này vẫn còn đọc được một phần, các cụ biết chữ Nho trong làng nói ông Nguyễn Sỹ Xung được vua Quang Trung giao cho việc tải dực của quân đội. Sắc phong chủ yếu ngợi khen công lao này".

Cơ hội làm rõ một nghi vấn trong lịch sử
Về cuộc hành quân này, Hoàng Lê nhất thống chí viết: Ngày 29 tháng Chạp năm Mậu Thân (1788), đại binh của Quang Trung tới Nghệ An...Hôm sau Quang Trung hạ lệnh tiến quân. Sách Lê triều dã sử thì chép cụ thể: Khi tiến quân ra Thăng long, vua Quang Trung bày cho quân lính cứ ba người một tốp thay phiên võng nhau đi, thành ra quân trẩy đi liên miên không phải dừng lại mà ai nấy đều lần lượt được nghỉ.
Cuộc hành quân thần tốc này của Quang Trung cho đến nay vẫn là một nghi vấn của lịch sử.GS Phan Huy Lê cho biết, thượng tướng giáo sư Hoàng Minh Thảo đã từng thực nghiệm từ Thanh Hóa ra Tam Điệp. Một đơn vị vừa đi vừa nghỉ, một đơn vị đi theo "kiểu vua Quang Trung". Kết quả tốc độ hành quân bằng nhau, nhưng đơn vị vừa đi vừa nghỉ thì sức khoẻ tốt hơn. Tuy nhiên, theo GS Lê, dù là dã sử, bao giờ cũng có nguyên cớ. Có thể cách hành quân vừa đi vừa võng có được áp dụng cho một bộ phận nào đó của cuộc hành quân, và nhân dân đã truyền tụng để giải thích cho cuộc hành quân của cả đại binh. Trên thực tế, các chiến thuyền lớn của Quang Trung đã đi trước ra thẳng Tam Điệp. Những nơi mà Quang Trung xuất hiện như Nghệ An, Tam Điệp đã được các viên tướng địa phương chuẩn bị sẵn. Sự phát hiện ra viên tướng Nguyễn Sỹ Xung càng củng cố thêm lập luận này, vì theo GS Lê: "Nếu không có các viên tướng địa phương, Quang Trung khó có thể trong vài ngày tuyển được hàng vạn quân ở Nghệ An". Hoàng Lê nhất thống chí viết: Vua Quang Trung mừng lắm, liền sai đại tướng là Hán Hổ hầu kén lính ở Nghệ An, cứ ba đinh lấy một, chưa mấy lúc đã được hơn vạn quân tinh nhuệ.
Tháng 10 - 1997, trở lại Nghệ An, tôi được tin nhà thờ họ Nguyễn Sỹ đã được công nhận di tích. Nhưng nhân vật tướng Nguyễn Sỹ Xung thì chưa có nhà sử học nào để ý đến. Bản gốc gia phả và các đạo sắc, nếu được dịch chuẩn xác cùng với các văn bia lưu lại tại nhà thờ có thể sẽ cung cấp thêm nhiều tư liệu quý. Theo lời khuyên của GS Phan Huy Lê, tôi chỉ viết bài này như một gợi ý cho các nhà sử học.

Phút Tưởng Niệm Các Anh Hùng Liệt Sỹ


Tin Nóng An Ninh Hình Sự

Thông Tin Giải Trí Ấn Tượng

Cười Xả Láng