Hiển thị các bài đăng có nhãn Địa Lý. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Địa Lý. Hiển thị tất cả bài đăng

Di Tích Văn Hóa Cấp Quốc Gia :Nhà thờ họ Nguyễn Sỹ và Khu Lưu niệm bậc Tiền Bối Cách Mạng Nguyễn Sỹ Sách



http://btxvnt.org.vn/cms/?m=29&act=view&id=313
http://wiki.tcnao.net/Nguy%E1%BB%85n_S%E1%BB%B9







Nhà thờ họ Nguyễn Sỹ nằm ở trung tâm làng Tú Viên, Tổng Xuân Lâm nay là xã Thanh Lương, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Di tích cách thành phố Vinh 26 km về hướng Đông. Từ thành phố Vinh, theo đường quốc lộ 46, đến km 28 rẽ hướng Tây Nam, theo đường Nguyễn Sỹ Sách khoảng 15 km là đến nhà thờ họ Nguyễn Sỹ.
Từ xưa, xã Thanh Lương đã có truyền thống yêu nước và khoa bảng. Trong xã có 6 dòng họ: Nguyễn Sỹ, Nguyễn Trí, Nguyễn Trọng, Nguyễn Đình, Nguyễn Công và Phan Văn, họ Nguyễn Sỹ nổi tiếng nhất. Về khoa cử có Phó bảng Nguyễn Sỹ Ấn, Tiến sỹ Nguyễn Đình Điển, Cử nhân Nguyễn Sỹ Lạng…Anh hùng hào kiệt có danh tướng Nguyễn Sỹ Xung, Nguyễn Sỹ Quyển, Nguyễn Sỹ Biểu.
Nhà thờ họ Nguyễn Sỹ gắn liền với những nhân vật, sự kiện lịch sử tiêu biểu. Theo gia phả họ Nguyễn Sỹ để lại đã có nhiều người tham gia phong trào yêu nước và đóng góp công sức xây dưng quê hương, đất nước.

- Danh tướng Nguyễn Sỹ Xung. Dưới triều vua Lê Hiển Tông ( Cảnh Hưng 1740-1788 ), ông đã tham gia 18 năm trong quân đội thời Hậu Lê ( 1762- 1780 ). Nguyễn Sỹ Xung là bậc trung quân ái quốc giữ chức “ Tráng tiết tướng quân phó Thiên hộ chức”. Nguyễn Sỹ Xung được vua Lê Hiển Tông phong hai đạo sắc năm Mậu Ngọ ( 1784). Năm 1787, khi quân Tây Sơn tiến ra Bắc, trên đường đi qua Nghệ An dừng lại để chiêu mộ thêm binh tướng, ông được Quang Trung chọn làm ưu binh cận thần. Con em làng Tú Viên, Xuân Bảng, Xuân Đường, Xuân Trường, Võ Liệt…đi theo Nguyễn Sỹ Xung.tham gia rất đông vào đội quân của Quang Trung. Ông góp phần cùng Nguyễn Huệ vạch ra chiến thuật hành quân thần tốc từ Phù Thạch ra Ngọc Hồi: cứ 3 người một võng, 1 người nằm trên 2 người khiêng, khi mệt thì thay phiên nhau. Sau trận đại thắng Tết Kỷ Dậu, ông được vua Quang Trung thưởng 2 đạo sắc và phong chức “Trung công tiết chế”.
- Nguyễn Sỹ Quyển, con trai Nguyễn Sỹ Xung cũng tham gia nghĩa quân với cha và được giữ chức “ Biền binh thư lại”.
- Nguyễn Sỹ Biểu, em trai Nguyễn Sỹ Xung là người thông minh, giỏi võ, có tinh thần quả cảm luôn được mọi người kính nể. Ông được chọn làm Tổng hội Hội trưởng dưới thời vua Minh Mạng. Năm Minh Mạng thứ 15, Nguyễn Sỹ Biểu được vua ban Đạo sắc vì có công “dẹp bọn cướp bóc ức hiếp nhân dân”.
Qua các kỳ thi, dòng họ Nguyễn Sỹ đều có người đỗ đạt cao:


- Nguyễn Sỹ Lạng (tức Nguyễn Thúc Hằng) đậu Cử nhân khoa Canh Ngọ 1870, không ra làm quan mà về quê mở lớp dạy học tại nhà thờ, học trò theo học rất đông. Khoảng năm 1888-1889, cụ Lạng xuống làng Đan Nhiệm, huyện Nam Đàn dạy học. Phan Bội Châu cũng là một trong rất nhiều học trò của cụ, Sau khi Phan Bội Châu đỗ đầu thi Hương- Giải Nguyên đã lên Thanh Chương tìm bạn đồng khoa và đến nhà thờ họ Nguyễn Sỹ thắp hương, tặng bức trướng để cảm tạ thầy Lạng.
- Nguyễn Sỹ Ấn đậu Phó bảng khoa Giáp Thìn 1844. Năm 1846, triều đình nhà Nguyễn mời ông vào kinh đô Huế làm Hàn lâm viện Kiểm khảo. Liên tiếp thời gian sau này, ông làm Tri huyện kim Thành, Bố Trạch Quảng Bình, phúc khảo trường Hà Nội, Tri phủ Kiến Thuỵ tỉnh Thái Bình. Năm Nhâm Tý 1852, Nguyễn Sỹ Ấn được mời về kinh đô làm Thị giảng Hàn lâm Viện. Tại đây ông gặp Nguyễn Sinh Sắc và đã giúp đỡ gia đình ông Sắc bà Loan ổn định chỗ ăn ở. Sau khi đậu Phó bảng, Nguyễn Sinh Sắc hành hương về quê. Ông cùng hai con Nguyễn Sinh Khiêm và Nguyễn Sinh Cung lên nhà thờ họ Nguyễn Sỹ hai lần để thắp hương cảm tạ thầy Nguyễn Sỹ Ấn, tặng nhà thờ 2 câu đối và cũng là dịp tìm hiểu, trao đổi với các sỹ phu về thời cuộc.
- Nguyễn Đình Điển đỗ Tam giáp Tiến sỹ khoa thi Hội năm 1901 ở làng Xuân Hồ, Nam Đàn là con rể của cụ Nguyễn Sỹ Ấn.
Khi phong trào Văn Thân bùng nổ, Thanh Chương là nơi khởi đầu do Trần Tấn và Đặng Như Mai lãnh đạo. Nhà thờ là điểm hội tụ của giới sỹ phu trong tổng và huyện bàn việc cứu nước. Trong một cuộc họp, họ đã bàn kế hoạch rào làng để chặn bước tiến quân giặc, bảo vệ nghĩa quân của Trần Tấn và Đặng Như Mai. Nhân dân địa phương còn đóng góp nhiều tiền, gạo và nuôi dấu bảo vệ nghĩa quân.
Hưởng ứng phong trào Cần Vương của cụ Phan Đình Phùng, ở Thanh Chương có nhiều sỹ phu yêu nước tham gia tích cực như Bùi Văn Huân, Nguyễn Đình Cát, Nguyễn Sỹ Lạng, Nguyễn Sỹ Vơn, Văn Đinh Nịu… Nguyễn Sỹ Vơn là đời thứ 8 của họ Nguyễn Sỹ vốn nổi tiếng giỏi võ và phi ngựa. Ông đã chiến đấu anh dũng chống quân Pháp tại Lạch Quèn, Cửa Hội và bị thương nặng, về đến núi Mượu thì chết. Lúc đó, Nguyễn Sỹ Vơn mới 26 tuổi.
- Nhà thờ là nơi gắn bó với cuộc đời của đồng chí Nguyễn Sỹ Sách, một cán bộ tiền bối kiên trung của Đảng.


Nguyễn Sỹ Sách sinh năm 1905 là cháu đời thứ 10 của dòng họ Nguyễn Sỹ. Thân sinh anh là Nguyễn Sỹ Giản, một nhà nho nghèo, tính tình cương trực, khảng khái. Ông đã hai lần đi thi Hương chỉ đỗ Tú tài, ở nhà mở trường dạy học. Năm 17 tuổi Nguyễn Sỹ Sách đỗ bằng Thành chung, khoá đầu tiên trường Quốc học Vinh cùng với Tôn Quang phiệt và Đặng Thai Mai. Vua Bảo Đại có mời vào Huế làm quan nhưng anh không nhận. Dạy ở Quốc học Vinh được một năm, Nguyễn Sỹ Sách được bổ vào dạy tại trường Tiểu học Pháp- Việt Hà Tĩnh. Tại đây, anh đã tham gia tích cực những hoạt động yêu nước. Năm 1925, Nguyễn Sỹ Sách cùng với Tôn Quang Phiệt, Trần Phú, Lê Huân thành lập Hội Phục Việt- một tổ chức cách mạng của trí thức yêu nước. Dò la được những hoạt động của anh trong trường, nhiều lần đốc học và công sứ cho gọi lên vừa dụ dỗ, vừa trấn áp. Năm 1926, Nguyễn Sỹ Sách về quê bắt liên lạc với cụ Đốc Tám, đứng ra thành lập Hội “Khuyến học”. Các lớp học trong làng và tại nhà thờ là nơi Nguyễn Sỹ Sách tuyên truyền thơ ca cách mạng, sách báo báo bí mật với đông đảo học sinh, thanh niên trong vùng.
Năm 1927, Nguyễn Sỹ Sách được Hội Hưng Nam cử sang Quảng Châu, Trung Quốc dự lớp huấn luyện chính trị của đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Sau khi về nước, Nguyễn Sỹ Sách được cử làm Bí thư Kỳ bộ Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội ( VNTNCMĐCH ). Tháng 5/1929, đồng chí dẫn đầu đoàn đại biểu của tổ chức VNTNCMĐCH Trung Kỳ sang Hương Cảng dự Đại hội Tổng bộ. Đồng chí được bầu là Uỷ viên BCH Tổng hội đặc trách công tác trong nước.Dưới sự lãnh đạo của đồng chí Nguyễn Sỹ Sách, nhiều Chi bộ cộng sản ra đời và hoạt động mạnh bên cạnh Kỳ bộ Đông Dương cộng sản Đảng lãnh đạo phong trào quần chúng đấu tranh. Ngày 21-7-1929, đồng chí bị địch bắt, kết án và đưa vào giam tại Lao Bảo. Ở Lao Bảo, Nguyễn Sỹ Sách đã lãnh đạo anh em tù chính trị đấu tranh phản đối chính sách dã man của thực dân Pháp. Trong một cuộc xô xát với tên Công Bơ, Nguyễn Sỹ Sách dùng chiếc chiếu quất vào mặt hắn. Ngay lập tức, bọn tay sai đã bắn chết đồng chí lúc 17 giờ, ngày 19-12-1929. Nguyễn Sỹ Sách hy sinh anh dũng đã trở thành tấm gương và dấy lên tinh thần đấu tranh mạnh mẽ của anh em trong tù cũng như các đồng chí của tổ chức Tổng bộ VNTNCMĐCH.
Trong cao trào cách mạng 1930-1931, nhà thờ họ Nguyễn Sỹ là nơi hội họp, in ấn, cất dấu tài liệu của Đảng
Tháng 9 năm 1930, tại đây, dưới sự chỉ đạo của các đồng chí cán bộ Tỉnh uỷ Nghệ An: Nguyễn Tiềm, Đặng Chánh Kỷ, Nguyễn Hữu Bình và các đồng chí: Tôn Gia Tinh, Tôn Thị Quế, Nguyễn Sỹ Đức, Nguyễn Đình Thốc đại diện cho Huyện uỷ Thanh Chương, Tổng uỷ Xuân Lâm tiến hành Hội nghị thành lập Chi bộ Đảng Quang Trung- Chi bộ ghép của Tú Viên với nửa làng Xuân Bảng và nửa làng Xuân Dương, do đồng chí Nguyễn Sỹ Tâm làm Bí thư.
Sau khi Chi bộ ra đời, các tổ chức quần chúng như: Nông hội đỏ, tự vệ đỏ, thanh niên, Hội ái hữu tương tế.. cũng lần lượt được thành lập.
Nhà thờ họ Nguyễn Sỹ là nơi Huyện uỷ, Tổng uỷ Xuân Lâm làm việc từ tháng 9 năm 1930 đến tháng 1 năm 1931 để chỉ đạo phong trào Xô Viết vùng Hạ Thanh Chương. Ngày 25/8/1930, Huyện uỷ họp bàn quyết định tổ chức một cuộc biểu tình qui mô rộng lớn toàn huyện vào ngày 1/9/1930. Để chuẩn bị cho cuộc biểu tình, bộ phận ấn loát chuyển về nhà thờ in ấn truyền đơn, tài liệu. Hàng trăm tờ truyền đơn, báo Nhà Quê, báo Tiến Lên, Chỉ thị, Nghị quyết được in ra và chuyển đi cơ sở trong huyện Thanh Chương, Nam Đàn. Tối 1- 9- 1930, Huyện uỷ cùng với các Chi bộ Đảng trong Tổng Xuân Lâm họp tại nhà thờ bàn việc tổ chức truy điệu liệt sỹ Nguyễn Công Thường, người hy sinh anh dũng trong cuộc biểu tình toàn huyện.
Nhà thờ họ Nguyễn Sỹ là nơi các đồng chí Nguyễn Tiềm- Bí thư Tỉnh uỷ Nghệ An, Lê Xuân Đào- Uỷ viên Xứ uỷ Trung Kỳ, Đặng Chánh Kỷ, Tôn Gia Chung, Tôn Thị Quế, Tôn Gia Tinh, Võ Thúc Đồng…những cán bộ của Tỉnh uỷ, Huyện uỷ về đây trực tiếp chỉ đạo phong trào đấu tranh ở vùng hạ Thanh Chương. Trong thời gian đó, con cháu và nhiều gia đình họ Nguyễn Sỹ đã canh gác cho tổ ấn loát làm việc, cất dấu tài liệu, phục vụ, nuôi dấu cán bộ cách mạng. Khi chính quyền Xô Viết ra đời ở các thôn xóm, nhà thờ Nguyễn Sỹ là nơi học chữ Quốc ngữ cho nhân dân trong vùng.
Năm 1930- 1931,dòng họ Nguyễn Sỹ có 17 đảng viên, 10 liệt sỹ, 19 người bị bắt giam, 6 gia đình được cấp Bằng Có công với Nước.
Trong thời kỳ chống mỹ cứu nước, nhà Hạ đường là kho lương thực, kho nông sản của tỉnh nghệ An.
Nhà thờ họ Nguyễn Sỹ được dòng họ lập nên để thờ các vị Tiên Tổ có công với nước với dân. Theo phong tục xưa, hàng năm tại nhà thờ tổ chức lễ Đại được vào Rằm tháng Giêng và lễ Rằm vào ngày 15 tháng 7 Âm lịch; ngày 27-7, các tổ chức của huyện và xã thường đến nhà thờ thắp hương tưởng nhớ đồng chí Nguyễn Sỹ Sách.
Nhà thờ họ Nguyễn Sỹ được xây dựng năm 1600, diện tích khuôn viên là 580 m2; gồm có : cổng, 2 nhà Thượng đường và Hạ đường, sân.
- Cổng nhà thờ cao 4m, trên đỉnh cột cổng có đắp 2 con ghê.
- Nhà Hạ đường có 3 gian, 2 hồi, kiến trúc kiểu tứ trụ tam oai. Các đuôi kèo trạm trổ hoa lá cành, các hạ xà kiến trúc kiểu vỏ măng chỉ kềm và trạm hình triệu long. Nhà Hạ có chiều cao từ nóc xuống mặt nền là 4,2m; chiều dài 9,2m, rộng 6,6m. Nhà có 14 cột; cột lớn nhất cao 3,7m, đường kính 0,25m; chân cột kê bằng đá xanh được tạo theo khối vuông, rãnh tròn, kích thước là 0,3m x 0,3m x 0,12m. Nhà Hạ có 12 cánh cửa bàn khoa, lợp ngói vảy, trên đỉnh nóc có đắp hình lưỡng long triều nguyệt.
Kết cấu dọc : 1,03- 2,33- 2,55- 2,33- 1,03.
Kết cấu ngang : 1,15- 1,20- 1,92- 1,20- 1,15.
Bài trí nội thất : giữa nhà treo 2 bức cuốn thư, 2 cột treo câu đối của Tiến sỹ Nguyễn Đình Điển và của cụ Cử Lạng. Gian giữa có 2 yến thư, một bộ phản nơi các sỹ phu văn thân Cần Vương gặp gỡ luận đàm việc nước. Hai gian bên có 2 yến thư, một lá cờ Đảng ( năm 1986 không còn do cờ bị mục nát ), 1 chiêng, 2 trống ( năm 1930-1931, chiêng, trống được dùng trong các cuộc biểu tình ).
Nhà Thượng đường có 3 gian, chiều cao từ nóc xuống mặt nền là 4m, chiều dài nhà 7m, rộng 6m. Mái lợp ngói vảy, kiến trúc kiểu tứ trụ tam oai, kẻ xông chồng đấu, trạm trổ hoa lá ở các đường hạ và các chồng đấu với đường nét sắc sảo, trên đỉnh nóc có hình lưỡng long triều nguyệt. Tất cả gỗ làm nhà thờ bằng gỗ lim ròng, xung quanh xây đá ong, trét vôi hàu. Nhà có 8 cánh cửa bàn khoa và ván dật; 18 cột, cột lớn cao 2,7m, đường kính 0,22m; chân chân cột kê bằng đá hình tròn vân núi, đường kính 0,04m, cao 0,02m.
Kết cấu dọc nhà Thượng đường : 1,95m- 2,5m- 1,95m.
Kết cấu ngang nhà Thượng đường : 1m- 1m- 1,75m- 1m- 1m.
Bài trí nội thất : Gian giữa treo cuốn thư, hoành phi và bức đại tự. Bức hoành phi của cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc tặng nhà thờ có nội dung “ Thi thư thạch”, nghĩa là ca ngợi truyền thống học hành thi cử của dòng họ Nguyễn Sỹ.







Gian giữa có bệ thờ ba bậc. Bậc thứ nhất ( trên cùng ) để tủ gỗ sơn son thiếp vàng, trạm hình lưỡng long triều nguyệt. Tủ đựng 5 đạo sắc vua ban, đã từng cất dấu hàng trăm tờ truyền đơn, báo chí, nghị quyết của Đảng trong thời gian Tổng uỷ Xuân Lâm và tổ ấn loát làm việc tại đây.
Bậc thứ hai bài trí mâm gỗ cổ bồng, mâm chè.
Bậc thứ ba có : 1 mâm gỗ cổ bồng sơn son thiếp vàng để mũ của danh tướng “ Trung quân tiết chế” Nguyễn Sỹ Xung, 2 mâm chè, 1 giá gương sơn son thiếp vàng để bài cúng, 1 yến thư, 2 cọc đèn sáp, 1 lư hương, 2 lọ hoa.
Gian phía tả và phía hữu đều có bàn thờ xây bằng đá 3 tầng để linh toạ sơn son thiếp vàng và các mục chủ ghi tên tuổi sự nghiệp của từng cụ, trong đó có đ/c Nguyễn Sỹ Sách; có 2 yến thư. Trước hiên nhà Thượng đường có 2 cột quyết, trang trí hình tứ phượng ngũ lâu và hai câu đối của cụ Nguyễn Sinh Sắc tạ ơn thầy Phó bảng Nguyễn Sỹ Ấn.
- Sân nằm giữa Thượng đường và Hạ đường, rộng 2,6m , có bể cạn xây bằng đá xanh để đựng nước cúng.
Với những giá trị lịch sử, khoa học, nhất là nơi ghi dấu những sự kiện phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930-1931, nhà thờ họ Nguyễn Sỹ được Bộ VHTT cấp bằng di tích Quốc gia, Quyết định số 985, ngày7/5/1997

Dấu tích ngôi chùa cổ trên đất Nam Đàn

Văn bia “Chung sơn Bảo Quang tự bi” - dấu tích ngôi chùa cổ trên đất Nam Đàn
                                                             Biên soạn:  Trần Tử Quang

Cho đến nay, về lịch sử Phật giáo Nghệ An vẫn chưa có một công trình khoa học nào nhắc tới một cách đầy đủ và hệ thống, khiến cho chúng ta vẫn chưa có được một cái nhìn toàn diện về sự hình thành và phát triển của Phật giáo trên mảnh đất xung yếu của tổ quốc và được xem là “địa linh nhân kiệt” này. Nhắc tới Phật giáo Nghệ An, chắc phải nhắc tới chùa Linh Vân, chùa được sách Đại Nam nhất thống chí (1) cho biết đây là ngôi chùa được xây dựng dưới thời thuộc Bắc do chính Cao Biền chủ trương xây dựng và Thiền sư Nguyễn Y Sơn, sách Việt điện u linh (2) cho biết đây là vị thiền sư nổi tiếng của thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Đây chắc hẳn là những hình ảnh sớm nhất của Phật giáo Nghệ An trong lịch sử.

 Trải qua những biến thiên thăng trầm của thời đại, những ngôi chùa cổ trên địa bàn Nghệ An hiện nay hầu như không còn nguyên vẹn nữa. Nhưng may mắn ở đâu đó trong dân gian vẫn còn lưu giữ được những di tích của tiền nhân để lại. Chính vì vậy đây chính là những nguồn tư liệu hết sức quan trọng và cần thiết để khẳng định sự xuất hiện và ăn sâu của tư tưởng Phật giáo tại mảnh đất này. Chắc có lẽ do cơ duyên với tiền nhân mà trong một lần điền dã, chúng tôi đã gặp được một tấm văn bia của một ngôi chùa được dựng nên từ hơn 400 năm trước. Sự xuất hiện của tấm văn bia cho ta biết sự có mặt của một ngôi chùa cổ tại đây. Và chắc cũng không phải ngẫu nhiên mà ngôi chùa này lại được xây dựng tại một quả núi nổi tiếng trong thời hiện đại: Núi Chung ở thôn Ngọc Đình nay thuộc xã Kim Liên huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An. Theo một số tài liệu thì xưa kia trên núi có đền Thánh Cả thờ tướng quân Nguyễn Đắc Đài thời Trần, bên cạnh đền là chùa Đạt, chính là ngôi chùa Bảo Quang, có quả chuông to nổi tiếng đã đi vào câu ca dao:
 “Vui nhất là cảnh chợ Cầu 
Ngoài đền Thánh Cả trên lầu gác chuông”
 Xung quanh núi Chung là những địa danh nổi tiếng gắn với những nhân vật kiệt xuất kiệt xuất của dân tộc. Phía bắc núi Chung là làng Sen, quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh:
“vui nhất là cảnh xã mình 
Kim Liên sen tốt, Ngọc Đình chuông kêu” 
Phía nam là làng Hữu Biệt, nay là xã Nam Giang nổi tiếng với ngôi đền thần Độc Lôi thờ phụng vị danh tướng họ Phạm đời Lý:
 “Quê em anh hỡi đừng quên 
Có sông Rào Mượu có đền Độc Lôi” 
Phía tây núi khoảng 4km là làng Đan Nhiễm nay là xã Nam Hòa, quê hương nhà yêu nước Phan Bội Châu. Chỉ trong vòng bán kính chưa đầy 10km mà đã có nhiều địa danh nổi tiếng và những nhân vật kiệt xuất của dân tộc Việt Nam thời hiện đại. Phải chăng đây là vùng đất hội tụ được khí thiêng của núi sông mà người xưa đã dày công chọn lựa để dựng xây nên ngôi chùa ngôi đền nổi tiếng và được sự quan tâm của nhà nước phong kiến và toàn thể nhân dân lúc bấy giờ.

 Ngôi chùa Bảo Quang từng hiện diện trên núi Chung từ lâu. Vật chuyển sao dời, ngôi chùa nay không còn, dấu vết duy nhất để lại là tấm văn bia cổ. Tấm văn bia này có tên: “Chung Sơn Bảo Quang Tự Bi” có niên đại đời vua Lê Thần Tông niên hiệu Vĩnh Tộ năm thứ 3. Tính tới thời điểm hiện tại tấm bia có niên đại 391 năm.

 Tấm văn bia cao khoảng 1,6m và rộng khoảng 0,9m đứng trơ trọi giữa một bãi đất bằng phẳng rộng rãi dưới chân núi Chung, xung quanh là những cây bụi cỏ mọc um tùm kín lối. Theo Văn khắc Hán Nôm Việt Nam (1) thì đây là bia đình Ngọc Đình, trong Văn bia Nghệ An (2) là bia chùa Ngọc Đình. Còn theo như trên văn bia thì đây lại là bia chùa Bảo Quang. Dựa vào nội dung có thể phỏng đoán chùa có quy mô lớn nhưng nay đã bị mất hoàn toàn, nay chỉ còn lại tấm văn bia. Theo dòng đầu tiên trên văn bia “Trùng tu Chung sơn Bảo Quang tự ký” và niên hiệu ta đoán định được rằng chùa được xây dựng từ rất lâu trước thời vua Thần Tông triều Lê, bởi văn bia này ghi lại việc trùng tu chứ không phải ghi lại việc xây dựng. Bốn câu đầu trong bài minh cũng chứng minh điều đó:
“Nam Đường huyện danh 
Chung đại cảnh mỹ 
Sơn hữu Phật cung 
Tích triệu cơ chỉ”
 (Tiếng huyện Nam Đường Hun đúc nên cảnh đẹp Trên núi có cung thờ Phật Nền gây dựng từ xưa) Về địa danh Nam Đàn, trong văn bia ghi: “Nam Đường” (南塘) cho ta biết bia khắc vào thời Lê. Bởi sang giữa thời Nguyễn, Nam Đường mới được đổi thành Nam Đàn do tránh húy của vua Cảnh Tông (Nguyễn Phúc Đường) do đó tên gọi Nam Đàn có từ thời Đồng Khánh (1885 - 1889) trở về sau.
Tấm bia gồm có 2 mặt. Mặt trước là dòng chữ to “Chung sơn Bảo Quang tự bi” còn mặt sau là dòng chữ “Thập phương tín thí công đức”. Diềm bia trang trí hoa lá uốn lượn rất tinh vi và mềm mại. Xen lẫn vào đó là hình ảnh chim trĩ đang đậu. Đặc biệt ở trán bia điêu khắc hình Lưỡng long triều nhật. Còn ở chân bia là hình sóng biển trông rất uyển chuyển và thanh thoát.
Tất cả đều mang dấu ấn và phong cách điêu khắc thời Lê rất rõ nét. Mặt trước gồm 25 hàng còn mặt sau 11 hàng, toàn bộ văn bia gồm khoảng hơn 1500 chữ. Đặc biệt, văn bia này có những chữ kiêng húy tên của vua và hoàng hậu triều Lê: 1. Húy chữ Trần 陳 do kiêng tên bà Phạm Thị Ngọc Trần 范氏玉陳. Bà Ngọc Trần là vợ vua Lê Thái Tổ, mẹ vua Lê Thái Tông, bà nội vua Lê Thánh Tông 2. Húy chữ Thành 誠 do kiêng tên Lê Tư Thành 黎思誠 (Lê Thánh Tông) Hai chữ húy này đều bị đảo nét trong mỗi chữ và có bộ xuyên 川 gãy nét ở trên đầu. Cách thể hiện văn bản cũng mang đậm phong cách cổ khi những chữ liên quan tới các đối tượng cao quý được đài lên cao hơn và tách ra viết riêng ở một dòng khác: 聖朝 (Thánh triều) chỉ triều đại của bậc Thánh nhân. 皇上 (Hoàng thượng) chỉ Vua. 玉皇 (Ngọc hoàng) chỉ Vua trời cai quản tam giới.
Chữ này được đài lên cao nhất (2 hàng) so với tất cả các dòng trong văn bia. Còn một đối tượng khác cũng nằm trong danh sách này là Bình An vương tức Trịnh Tùng – vị chúa đầu tiên của họ Trịnh. Tuy không được đài lên hẳn như 3 đối tượng kể trên nhưng vẫn được đặt cao hơn và đặt riêng ở một dòng riêng biệt so với các dòng khác. Nét chữ Hán ở bia được khắc đều đặn và sâu nên trải qua 4 thế kỷ vẫn còn rất rõ ràng. Tuy nhiên do không có nhà bia nên trên bề mặt đã có dấu hoen rêu. Toàn bộ văn bia đều nguyên vẹn và bảo toàn được những chi tiết ban đầu mà không hề có dấu hiệu nào của việc khắc lại hay khắc mới. Do đó tấm bia này thực sự là bia gốc có xuất xứ và niên đại rõ ràng.
Theo Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, tấm bia này đã được in dập và thác bản hiện nay đang nằm tại Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm với số hiệu No 2389 – 2390. Còn trong cuốn Văn bia Nghệ An cũng có nói đến tấm văn bia này nhưng đáng tiếc cả 2 cuốn đều chỉ ghi phần nội dung tóm tắt chứ không chép lại nguyên văn chữ Hán cũng như phần phiên âm dịch nghĩa. Hơn nữa, cuốn sách Văn khắc Hán Nôm Việt Nam (3) đã chú nhầm một số chữ như: 1. Tuyết Đường Nguyễn Lễ Thuần giữ chức Thượng thư bộ Hình kiêm Đông các học sỹ, Tế tửu Quốc tử giám, có tước là Nghĩa Khê hầu 義溪侯 bị ghi nhầm thành Nghĩa Nghê hầu 2. Quang tiến Thận Lộc Đại phu Thái thường tự thiếu khanh, tước Văn Tuấn tử là Nguyễn Hoành Tài (阮宏材) bị ghi nhầm thành Nguyễn Hoằng Tài (阮弘材) 3. Húy chữ Thành 誠 trong tên Tư Thành của vua Lê Thánh Tông chứ không phải là chữ “cỏ” Còn trong cuốn Văn bia Nghệ An (4) ngoài ba chữ bị chú nhầm trên còn chú nhầm ở hai chỗ: 1. Người khắc chữ là Phạm Văn Thuyết người xã Lương Kiệt 良傑 chứ không phải là Lượng Kiệt. Xã này xưa thuộc huyện Thiên Bản, nay là huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. 2. Trồng hơn 150 cây (nguyên văn: 種樹一百五十餘株 chủng thụ nhất bách ngũ thập dư chu: trồng hơn 150 gốc cây) chứ không phải là trồng đích xác 160 cây. Về mốc thời gian gắn với các công việc cụ thể được nói đến trong văn bia. Ta thấy trong phần nội dung có nói đến thời gian bắt đầu việc trùng tu rất cụ thể “…Đến ngày tốt tháng 5 mùa hè năm Đinh Tị cho cất 3 thượng điện, …” ta truy năm Đinh Tị được nói đến ở đây là năm 1617 tức niên hiệu Hoằng Định thứ 18 đời vua Lê Kính Tông. Thời gian hoàn thành việc trùng tu: “…Trong vòng 3 năm mà quang cảnh như xưa, trở về gốc cũ…” là 3 năm sau năm Đinh Tị được nói ở trên, tức năm đầu niên hiệu Vĩnh Tộ đời Lê Thần Tông (1619). Còn thời gian lập bia, phần lạc khoản ghi:“ Vĩnh Tộ vạn vạn niên chi tam cốc nguyệt nhật” nghĩa là: ngày tháng tốt năm Vĩnh Tộ thứ 3 tức năm 1621 (từ “vạn vạn” mang ý nghĩa ca tụng triều đại lâu dài mãi mãi) truy ra thời gian lập bia là năm 1621. Như vậy ta biết được thời gian trùng tu chùa Bảo Quang là năm 1617, thời gian hoàn tất việc trùng tu là 1619 và thời gian lập bia ký là 1621. Về tác giả, trên văn bia ghi rõ bài văn do Tế tửu Quốc tử giám là Nguyễn Lễ Thuần soạn. Theo cuốn Di sản văn chương Văn miếu Quốc tử giám (5) thì Quốc tử giám nước ta từ khi thành lập cho tới lúc cáo chung có 45 vị Tế tửu và Tư nghiệp. Trong số 45 vị này chúng tôi không thấy ghi tên Tuyết Đường Nguyễn Lễ Thuần. Có thể vào giai đoạn lịch sử lúc bấy giờ, vua Lê và Trịnh Tùng vừa mới khôi phục lại kinh đô Thăng Long và vẫn đang phải lo tập trung binh nhung để đối phó với triều đình nhà Mạc tại Cao Bằng cũng như kiềm chế sự cát cứ của Nguyễn Hoàng tại Thuận Quảng. Chính vì vậy mà việc thi cử và học hành đã bị ảnh hưởng nên có nhiều hạn chế. Việc biên soạn và ghi chép vì thế mà không đầy đủ. Các tài liệu khác ghi chép về Nguyễn Lễ Thuần cũng rất ít nên chúng tôi chưa thể cung cấp được đầy đủ và chính xác. Vì vậy tấm bia này còn cung cấp thêm thông tin về vị Tế tửu trường Quốc tử giám mà xưa nay chúng ta chưa biết tới. Qua đó tiến hành tìm hiểu và sưu tầm các tài liệu có liên quan để ghi chép lại tiểu sử và hành trạng cũng như chức vụ Tế tửu của nhân vật quan trọng này. Chúng ta thấy rằng xã hội Việt Nam sang đến thời Lê, khi nhà nước phong kiến Đại Việt chuyển dần sang hệ tư tưởng thống tư tưởng quan liêu Nho giáo thì ảnh hưởng của Phật giáo đối với chính quyền cai trị không còn thịnh như thời Lý - Trần. Năm 1429, vua Thái Tổ lệnh cho các nhà sư nếu như thông thạo kinh điển và đủ phẩm hạnh thì đến trình diện để thi kiểm tra cho tiếp tục để tu hành, ai không thi đỗ thì bắt hoàn tục. Cho tới năm 1461 khi vua Thánh Tông lên ngôi, vị vua mang theo tư tưởng Nho học này đã ra lệnh cho các lộ, phủ không được tự tiện xây chùa chiền và tô tượng Phật nhằm hạn chế bớt ảnh hưởng của Phật giáo trong xã hội lúc bấy giờ. Tuy vậy, về đời sống tinh thần và tâm linh thì Phật giáo vẫn còn sự ảnh hưởng đáng kể cả trong cung đình lẫn ngoài dân chúng. Vua Lê Thái Tông và Lê Nhân Tông đã làm lễ Phật để cầu mưa. Các quan đại thần như Lê Văn Linh, Lê Ngân rất sùng đạo Phật. Một điều đặc biệt trong thời gian này đó là tại khoa thi năm Nhâm Tuất, niên hiệu CảnhThống thứ 5 (năm 1502), vua Lê Hiến Tông đã ra đề thi về Phật giáo khiến những người dự thi đều bỡ ngỡ. Trong đề thi, ông đã ra hơn 100 câu hỏi rất cụ thể về các kiến thức Phật học. Lê Ích Mộc làm bài đối bàn về đạo Phật rất xuất sắc và đã đỗ Trạng nguyên khoa này. Cho tới thời Lê Trung hưng, Phật giáo lại được phục hưng mạnh mẽ không chỉ ở kinh thành Thăng Long mà phát triển rộng khắp cả nước. Nguyên nhân là do chính trị xã hội cuối thời Lê sơ thối nát, vua chúa độc ác, ăn chơi phè phỡn khiến cho đời sống nhân dân vô cùng cơ cực. Rồi sự thành lập của nhà Mạc khiến cho cựu thần nhà Lê nổi lên chống đối. Gây ra cuộc chiến tranh Nam Bắc triều kéo dài hơn nửa thế kỉ với bao đau thương tàn khốc. Sau gần một thế kỷ đất nước chịu nhiều cảnh tang thương, loạn lạc người ta bắt đầu quay trở về với tư tưởng từ bi, hỷ xả của Phật giáo. Các chúa Trịnh không phải là những người học Phật uyên thâm và có ý chí tu học như các vua Trần, nhưng đã quy hướng về đạo Phật, lấy đó làm nơi nương tựa tinh thần. Chính vì vậy mà chúa Trịnh cũng cho tu tạo, sửa chữa nhiều ngôi chùa trong cả nước mà chùa Bảo Quang tại Nghệ An là một trong số đó. Văn bia chùa Bảo Quang có ghi rõ: “Thánh triều Hoàng thượng ta ngự ở kinh thành trung hưng đế nghiệp. Đô nguyên soái Tổng quốc chính Thượng phụ Bình an vương sửa sang việc nước, xét đền chùa trong nước không thể không sửa sang...” đủ cho chúng ta thấy sự quan tâm to lớn của vua chúa đối với Phật giáo. Thời kỳ này các chúa Trịnh cho trùng tu một số ngôi chùa danh tiếng ở kinh thành như chùa Khai Quốc (năm 1624), chùa Hồng Phúc (năm 1687)...
 Văn bia “Chung sơn Bảo Quang tự bi” ghi rõ việc trùng tu chùa Phật chứng tỏ Phật giáo đã sớm có mặt tại Nghệ An, ăn sâu bám rễ vào quần chúng nhân dân lao động. Văn bia lại do chính quan Tế tửu Quốc tử giám soạn chứng tỏ Phật giáo được tầng lớp quan lại quý tộc đương thời quan tâm, ủng hộ. Lịch sử ghi nhận thời Trần, đạo Phật đã được phát triển sâu rộng trong đời sống nhân dân, mỗi làng xã đều có chùa để thờ Phật. Nội dung văn bia chùa Bảo Quang cho thấy triều đình Lê Trịnh sau khi đánh đuổi họ Mạc, khôi phục kinh thành Thăng Long liền chủ trương xây dựng và sửa sang lại đất nước, tiến hành xây dựng lại các công trình văn hóa, trong đó có việc trùng tu chùa Phật. Trong văn bia còn cho biết một số nhân vật có danh tiếng đứng ra trùng tu chùa như Quang tiến Thận lộc đại phu Nguyễn Hoành Tài, Đô chỉ huy sứ Hoàng Nghĩa Phúc hay Dũng Trí hầu phu nhân Hoàng Thị Ngọc Bảo... Những nhân vật này đều sinh ra trong gia đình danh gia thế phiệt ở đất Nghệ An và có công lớn trong việc trung hưng nhà Lê. Do tầm quan trọng của tấm văn bia nên thời gian qua, Thư viện tỉnh nghệ An và Ban quản lý Di tích - Danh thắng tỉnh Nghệ An đã phối hợp với Ban quản lý khu di tích Kim Liên tiến hành sao dập tấm bia, đồng thời sưu tầm thêm tài liệu có liên quan.
Trước tiên khôi phục lại ngôi chùa lịch sử này, sau đó tiến hành xây dựng hồ sơ đệ trình Bộ Văn hóa TT&DL xin công nhận thêm di tích chùa Bảo Quang nằm trong khu di tích Kim Liên. Hiện thác bản tấm bia đang được lưu giữ tại Kho tài liệu quý hiếm - Thư viện tỉnh Nghệ An.
Văn bia có nhiều giá trị trong việc nghiên cứu nên chúng tôi xin được giới thiệu toàn bộ nguyên văn chữ Hán cùng phần phiên âm, dịch nghĩa như sau:
 鍾山寶光寺碑 重修鍾山寶光寺碑記 洪惟 聖朝 皇上御京城中興恢復都元帥總國政尚父平安王理國事係天下神祠寺觀無不修葺營繕之本譱心體德意玆惟光進慎祿大夫太常字少卿文俊子阮宏材字福生南塘鍾大壽鄉閥閱名家也歷有任官牧民治政多有陰功廣開方便大材梁大貲力有古跡名藍鍾山寶光寺年久跡陳疊能振作舊然用力於人敬勸乂安處屬鎮守官揚武威勇理造像功臣特進輔國上將軍錦衣衛都指揮使司都指揮使暑衛事美陽侯黃義福興元揚舍名鄉素兵家將種才德兼優與勇智侯夫人黃氏玉寶共發家貲巿材木集工匠以丁巳年夏五月轂日峻三上殿燒香前堂後堂左右行廊三關等堂並全鐵林覆蓋蓮尾加以塑繪三世聖僧二地共三座理造像 玉皇觀音南曹北斗護法八部金剛四大菩薩十八龍神掌孤魂等共四十八相丹青圓像塑繪生光金碧樓臺煇煌出色及砌立石墻四圍基址開千里路種樹一百五十餘株及內景園生花等物砌石井開池一口又三年以簡山五?依舊付還本寺三寶田各處所共五畝香惋越辛酉月功德圓成前後峻福材棟巍峨如來文香娑婆世界優缽生花應千年文瑞也誠道應感祥至福臻真應自然也福于家福于其子孫材為梁棟世世公侯將相功德河沙福無窮矣於是鐫立于碑以永其傳云 銘 南塘縣名 鍾大景美 山有佛宮 昔肇基址 誰作棟梁 公卿等貴 內重朝廷 外安都鄙 曰 德以潤身 仁嘗有志 大發家財 重修佛寺 永永皇圖 綿綿基緒 國保常強 家益昌盛 身保壽康 日增爵位 孫子繩繩 公侯世世 慶享有餘 善政所至 盛大德功 久長天地 會 阮宏材黎氏玉莊 黃義福黎氏玉特范仁琦黃氏玉寶阮氏李胡氏堂阮氏慪黎氏竹阮宏綱 王 黃義猷黃義德黃氏玉行黃氏玉仁黃氏玉義黃氏玉理 陳氏瑞黎氏澤阮氏祿 附會主 陳明杜氏鮮阮宏偉黎氏泰陳氏威 阮久錂阮氏璃阮蔓阮氏官 陶仕 永祚萬萬年ㄓ三穀月日 奉寫光進慎祿大夫太常寺少卿文俊子阮宏材字福生 刑部尚書兼東閣學士國子監祭酒義溪侯住國雪堂阮澧醇卿撰 奉刻天本縣良傑社范文說
 CHUNG SƠN BẢO QUANG TỰ BI TRÙNG TU CHUNG SƠN BẢO QUANG TỰ BI KÍ Hồng duy! Thánh triều Hoàng thượng ngự kinh thành trung hưng khôi phục. Đô nguyên soái Tổng quốc chính Thượng phụ Bình an vương lý quốc sự, hệ thiên hạ thần từ tự quan vô bất tu tập, doanh thiện chi bản thiện tâm thể đức ý. Tư duy! Quang tiến thận lộc đại phu Thái thường tự thiếu khanh Văn tuấn tử Nguyễn Hoành Tài tự Phúc Sinh, Nam Đàn Chung Đại Thọ hương phiệt duyệt danh gia dã. Lịch hữu nhậm quan mục dân, trị chính đa hữu âm công quảng khai phương tiện. Đại tài lương, đại ty lực, hữu cổ tích danh lam Chung sơn Bảo Quang tự, niên cửu tích trần lũy, năng chấn tác cựu nhiên. Dụng lực ư nhân, kính khuyến Nghệ An xứ thuộc Trấn thủ quan Dương Vũ Uy Dũng lý tạo tượng. Công thần Đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân Cẩm y vệ Đô chỉ huy sứ ty Đô chỉ huy sứ Thử vệ sự Mỹ dương hầu Hoàng Nghĩa Phúc Hưng Nguyên huyện Dương Xá danh hương, tố binh gia tướng chủng, tài đức kiêm ưu, dữ Dũng trí hầu phu nhân Hoàng Thị Ngọc Bảo cộng phát gia ty thị tài mộc tập công tượng. Dĩ Đinh Tị niên hạ ngũ nguyệt cốc nhật tuấn tam thượng điện, thiêu hương, tiền đường, hậu đường, tả hữu hành lang, tam quan đẳng đường. Tịnh toàn thiết lâm phúc cái liên vĩ. Gia dĩ sóc hội Tam thế thánh tăng, nhị địa cộng tam tòa lý tạo tượng. Ngọc hoàng, Quan âm, Nam tào, Bắc đẩu, Hộ pháp, Bát bộ kim cương, Tứ đại bồ tát, Thập bát long thần, chưởng cô hồn đẳng cộng tứ thập bát tướng đan thanh viên tượng sóc hội sinh quang, kim bích lâu đài huy hoàng xuất sắc. Cập thiết lập thạch tường tứ vi cơ chỉ, khai thiên lí lộ. Chủng thụ nhất bách ngũ thập dư chu. Cập nội cảnh viên sinh hoa đẳng vật. Thiết thạch tỉnh, khai trì nhất khẩu, hựu tam niên dĩ giản sơn ngũ ? y cựu, phó hoàn bản tự. Tam bảo điền các xứ sở cộng ngũ mẫu hương oản. Việt Tân Dậu nguyệt công đức viên thành, tiền hậu tuấn phúc tài đống nguy nga. Như lai, Văn Hương sa bà thế giới, ưu bát sinh hoa, ứng thiên niên văn thụy dã. Thành đạo ứng cảm, tường chí phúc trăn chân ứng tự nhiên dã. Phúc vu gia, phúc vu kỳ tử tôn, tài vi lương đống, thế thế công hầu tướng tướng, công đức hà sa, phúc vô cùng hĩ. Ư thị thuyên lập bi dĩ vĩnh kỳ truyền vân vu: Minh: Nam Đàn huyện danh Chung đại cảnh mỹ Sơn hữu Phật cung Tích triệu cơ chỉ Thùy tác đông lương Công hầu đẳng quý Nội trọng triều đình Ngoại an đô bỉ Viết: Đức dĩ nhuận thân Nhân thường hữu chí Đại phát gia tài Trùng tu Phật tự Vĩnh vĩnh hoàng đồ Miên miên cơ tự Quốc bảo thường an Gia ích xương thịnh Thân bảo thọ khang Nhật tăng tước vị Tử tôn thằng thằng Công hầu thế thế Khánh hưởng hữu dư Thiện chính sở chí Thịnh đại đức công Cửu trường thiên địa Hội: Nguyễn Hoành Tài, Lê Thị Ngọc Trang, Hoàng Nghĩa Phúc, Lê Thị Ngọc Đặc, Phạm Nhân Cơ, Hoàng Thị Ngọc Bảo, Nguyễn Thị Lý, Hồ Thị Đường, Nguyễn Thị Âu, Lê Thị Trúc, Nguyễn Hoành Cương. Vương: Hoàng Nghĩa Du, Hoàng Nghĩa Đức, Hoàng Thị Ngọc Hạnh, Hoàng Thị Ngọc Nhân, Hoàng Thị Ngọc Nghĩa, Hoàng Thị Ngọc Lý, Trần Thị Thụy, Lê Thị Trạch, Nguyễn Thị Lộc. Phó hội chủ: Trần Minh, Đỗ Thị Tiên, Nguyễn Hoành Vĩ, Lê Thị Thái, Trần Thị Uy, Nguyễn Cửu Tiễn, Nguyễn Thị Ly, Nguyễn Thị Mạn, Đào sỹ. Vĩnh Tộ vạn vạn niên chi tam cốc nguyệt nhật. Phụng tả: Quang tiến thận lộc đại phu Thái thường tự thiếu khanh Văn tuấn tử Nguyễn Hoành Tài tự Phúc Sinh. Hình bộ thượng thư kiêm Đông các học sỹ Quốc tử giám Tế tửu Nghĩa khê hầu Trụ quốc Tuyết Đường Nguyễn Lễ Thuần khanh soạn. Phụng khắc: Thiên Bản huyện, Lương Kiệt xã Phạm Văn Thuyết VĂN BIA CHÙA BẢO QUANG NÚI CHUNG BIA KÝ VIỆC TRÙNG TU CHÙA BẢO QUANG NÚI CHUNG Kính nghĩ! Thánh triều Hoàng thượng ta ngự ở kinh thành trung hưng đế nghiệp. Đô nguyên soái Tổng quốc chính Thượng phụ Bình an vương sửa sang việc nước, xét đền chùa trong nước không thể không sửa sang. Gốc của việc sửa chữa đó thể hiện cái ý của tâm đức vậy. Nay nghĩ! Quang tiến Thận lộc đại phu Thái thường tự thiếu khanh Văn tuấn tử Nguyễn Hoành Tài tự là Phúc Sinh sinh trưởng trong gia đình danh gia thế phiệt ở đất Nam Đường, đã từng gánh vác việc quan chăm lo dân chúng, việc chính trị được nhiều âm phù dương độ mở mang phương tiện. Là trụ cột nước nhà có nhiều công của. Thấy chùa Bảo Quang trên núi Chung là danh lam cổ tích đã bao năm vết tích đã bày ra có thể sửa sang lại như xưa. Kính khuyên quan trấn thủ Dương Vũ Uy Dũng xứ Nghệ An lo việc tạo tượng, công thần Đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân Cẩm y vệ Chỉ huy sứ ty Đô chỉ huy sứ Thử vệ sự Mỹ Dương hầu Hoàng Nghĩa Phúc, quê tại Dương Xá huyện Hưng Nguyên, vốn dòng dõi nhà binh, tài đức vẹn toàn; cùng với Dũng Trí hầu phu nhân Hoàng Thị Ngọc Bảo cùng góp của cải mua gỗ tốt. Để đến ngày tốt tháng 5 vào mùa hè năm Đinh Tị cho cất 3 thượng điện, lò thiêu hương cùng các công trình tiền đường, hậu đường, hành lang bên phải bên trái và tam quan; dùng gỗ lim để làm ngói đuôi sen. Thêm nữa là đắp tô tượng Tam thế Thánh tăng, Nhị địa cùng với Tam tòa. Ngọc Hoàng, Quan Âm, Nam Tào, Bắc Đẩu, Hộ Pháp, Bát bộ Kim Cương, Tứ đại Bồ Tát, mười tám Long Thần và cô hồn cùng bốn mươi tám bức tượng đỏ xanh tô đắp sáng ngời. Lâu đài vàng xanh huy hoàng rực rỡ. Lại xếp đặt tường đá vây quanh nền móng, mở mang nên con đường ngàn dặm. Trồng hơn 150 gốc cây. Cảnh bên trong thì vườn đầy hoa nở. Khơi giếng đá, đào ao, trong vòng 3 năm mà quang cảnh như xưa, trở về gốc cũ. Ruộng tam bảo ở các nơi tổng cộng tất cả 5 mẫu hương oản. Sang đến tháng Tân Dậu thì công đức tròn đầy, bên trước đằng sau mở nên nền phúc, rường cột nguy nga. Như Lai, Văn Hương sa bà thế giới, điềm lành nở hoa, ứng với sự tốt đẹp của ngàn năm văn vật. Đạo thành ứng cảm, lành đến phúc tới thật đúng tự nhiên vậy. Phúc truyền cho nhà, truyền cho con cháu, Tài năng thì trở thành rường cột nước nhà, đời đời công hầu văn võ tướng quan, công đức tựa hà sa, phúc vô cùng tận. Bởi thế, lập khắc bia đá để mãi mãi lưu truyền. Minh rằng: Tiếng huyện Nam Đàn Hun đúc nên cảnh đẹp Trên núi có cung thờ Phật Nền gây dựng từ xưa Ai làm nên cột rường Mà công khanh phú quý Trong trụ cột triều đình Ngoài giữ yên kinh thành, bờ cõi Rằng: Đức để nhuần thân Người có nhân thường có chí Dốc hết gia tài Trùng tu chùa Phật Tiếp hoàng đồ mãi mãi Giữ vững chắc móng nền Nước càng thêm giàu mạnh Nhà càng được thịnh vượng Thân thì được thọ khang Ngày càng thêm tước vị Con cháu được đầy đàn Công hầu nối đời đời Hưởng phúc vững bền lâu Nền chính trị khoan hòa Công đức thêm cường thịnh Vững bền cùng trời đất Hội gồm: Nguyễn Hoành Tài, Lê Thị Ngọc Trang, Hoàng Nghĩa Phúc, Lê Thị Ngọc Đặc, Phạm Nhân Cơ, Hoàng Thị Ngọc Bảo, Nguyễn Thị Lý, Hồ Thị Đường, Nguyễn Thị Âu, Lê Thị Trúc, Nguyễn Hoành Cương. Vương gồm: Hoàng Nghĩa Du, Hoàng Nghĩa Đức, Hoàng Thị Ngọc Hạnh, Hoàng Thị Ngọc Nhân, Hoàng Thị Ngọc Nghĩa, Hoàng Thị Ngọc Lý, Trần Thị Thụy, Lê Thị Trạch, Nguyễn Thị Lộc. Phó hội chủ: Trần Minh, Đỗ Thị Tiên, Nguyễn Hoành Vĩ, Lê Thị Thái, Trần Thị Uy, Nguyễn Cửu Tiễn, Nguyễn Thị Ly, Nguyễn Thị Mạn, Đào sỹ. Ngày tháng tốt niên hiệu Vĩnh Tộ thứ 3. Phụng mệnh viết chữ: Quang tiến thuận lộc Đại phu Thái thường tự thiếu khanh, Văn tuấn tử Nguyễn Hoành Tài tên chữ là Phúc Sinh. Thượng thư bộ Hình kiêm Đông các học sĩ Quốc tử giám Tế tửu Nghĩa Khê hầu Trụ quốc, khanh là Tuyết đường Nguyễn Lễ Thuần phụng soạn. Phụng khắc: Phạm Văn Thuyết người xã Lương Kiệt huyện Thiên Bản.
 (Mặt sau bia ghi tên những người công đức. Vì bài đã quá dài, xin lược bỏ)

Trần Tử Quang - Thư viện tỉnh Nghệ An .
---------------------------------------
(1). Đại Nam nhất thống chí
(2). Việt điện u linh
(3). Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, Nguyễn Quang Hồng, NXB. Khoa học xã hội, 1992, trang 187
(4). Văn bia Nghệ An, Ninh Viết Giao chủ biên, NXB Nghệ An, 2004, trang 406 (
5). Di sản văn chương Văn miếu Quốc tử giám, Phan Văn Các - Trần Ngọc Vương, NXB. Hà Nội, 2010

Dấu ấn Hoàng đế Quang Trung trên đất Nghệ An




 Nghệ An không phải là nơi diễn ra những trận đánh có ý nghĩa quyết định dẫn đến thắng lợi của phong trào Tây Sơn. Nhưng trong tất cả những cuộc tiến quân ra Bắc, quân Tây Sơn đều dừng chân tại Nghệ An và việc Quang Trung Nguyễn Huệ chọn núi Phượng Hoàng xây thành làm Kinh đô có thể thấy ông đã đánh giá rất cao đất và người nơi đây.

Di tích Thành Phượng Hoàng Trung Đô
Theo một số nhà nghiên cứu, tổ tiên của 3 anh em Tây Sơn vốn người làng Thái Lão (xã Hưng Thái, Hưng Nguyên). Trong những năm 1655 - 1660, dòng họ này gốc là họ Hồ, theo chúa Nguyễn vào ấp Tây Sơn thuộc huyện Phù Ly, phủ Quy Nhơn, nay là tỉnh Bình Định để khai hoang mảnh đất mới mở rộng. Vào đây, họ Hồ đổi thành họ Nguyễn, mấy đời sau sinh ra ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ.

Năm 1771, Nguyễn Nhạc cùng với hai người anh em là Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ dựng cờ khởi nghĩa ở ấp Tây Sơn. Chỉ trong một thời gian ngắn, nghĩa quân Tây Sơn đã làm chủ Đàng Trong. Sau đó, Nguyễn Huệ hai lần tiến quân ra Bắc, lần lượt đánh đổ chúa Trịnh và vua Lê.

Năm 1788, Lê Chiêu Thống rước 29 vạn quân Thanh xâm lược Bắc Hà, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Đế đặt niên hiệu là Quang Trung, sáng nghiệp ra nhà Nguyễn Tây Sơn, rồi thần tốc kéo quân ra Bắc đánh đuổi ngoại xâm. Trên đường tiến quân, nhà vua đã cho dừng lại ở Nghệ An để mộ quân.

Sau khi đánh bại quân Thanh, Quang Trung nhìn thấy rõ thế chiến lược của vùng đất Nghệ An và lòng người xứ Nghệ nên đã giao cho Trấn Thủ Thận và La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp tổ chức xây dựng Thành Phượng Hoàng Trung Đô. Sách "Hoàng Lê nhất thống chí" viết: "Vua Quang Trung cho rằng Nghệ An ở vào giữa chính nước, đường sá từ Nam ra, từ Bắc vào đều vừa bằng nhau, quê tổ tiên mình ở đấy, bèn sai trưng dụng rất nhiều thợ thuyền chở gỗ đá, gạch ngói để xây dựng cung phủ, lâu đài. Đắp thành đất chung quanh và sai lính đào đá o­ng ở địa phương để xây dựng thành trong. Dựng tòa lầu rồng ba tầng cung điện Thái Hòa, hai dãy hành lang để phòng dùng đến khi có lễ triều hạ. Thành này được gọi là Phượng Hoàng Trung Đô hoặc Trung kinh Phượng Hoàng thành". Chỉ hơn 1 năm sau, ngày 5 tháng 10 năm Kỷ Dậu (tức ngày 21/11/1789), trong tờ chiếu gửi La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, một lần nữa Nguyễn Huệ Quang Trung khẳng định việc xây dựng bằng được Phượng Hoàng Trung Đô để đóng đô ở Nghệ An: "Trẫm nay đóng đô ở Nghệ An, cùng tiên sinh gần gũi. Rồi đây tiên sinh hãy ra giúp nhau để trị nước". Theo các thư tịch còn giữ được thì vua Quang Trung đã làm việc ở Phượng Hoàng Trung Đô ít nhất hai lần. Lần thứ nhất, tháng 5 năm 1791, vua Quang Trung từ đây kéo quân lên vùng thượng du Nghệ An, vượt sang Lào đánh các lực lượng phản động đang có âm mưu cấu kết với bè lũ Lê Duy Chỉ chống lại triều Tây Sơn. Lần thứ hai, tháng 1 năm 1792, trên đường đánh giặc từ thượng du Nghệ An về, vua Quang Trung đã dừng chân ở đây.

Rất tiếc, vua Quang Trung qua đời đột ngột vào ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý (1792) nên chưa kịp dời đô từ Phú Xuân ra Phượng Hoàng Trung Đô. Phượng Hoàng Trung Đô là chứng tích hào hùng thể hiện tầm nhìn văn hóa của Nguyễn Huệ Quang Trung trong quá trình đấu tranh thống nhất đất nước, xây dựng cuộc sống thái bình, ấm no, hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam.


Lễ Đại tế tại Đền thờ Vua Quang Trung kỷ niệm ngày mất của ông.
Đền thờ Vua Quang Trung trên núi Dũng Quyết

Từ một cuộc khởi nghĩa nông dân phát triển thành một phong trào dân tộc, thắng lợi vẻ vang nhất của phong trào Tây Sơn là lật đổ nền thống trị của các thế lực phong kiến phản động, thống nhất đất nước và bảo vệ độc lập dân tộc.

Thể theo nguyện vọng của nhân dân và tỏ lòng biết ơn vị anh hùng "áo vải", ngày 23/7/2004, UBND tỉnh Nghệ An đã ra quyết định xây dựng Đền thờ Vua Quang Trung tọa lạc trên đỉnh thứ hai của núi Dũng Quyết có độ cao 97m so với mặt nước biển, thuộc vùng đất linh thiêng được Vua Quang Trung từng chọn đóng đô cách đây hơn 200 năm. Toàn bộ ngôi đền được làm bằng gỗ lim, lối đi, bờ vỉa, sân đền tạo nên vẻ uy nghi, hiện đại nhưng không kém phần cổ kính. Hệ thống vì kèo kết cấu của đền kiểu giá chiêng chồng rường, chạm khắc họa tiết theo phong cách thời Nguyễn. Mái lợp ngói mũi hài, gồm hai lớp: ngói chiếu, ngói cót, nền được lát gạch bát tràng kiểu cổ phục chế từ Hà Tây. Tường xây gạch bát, cửa đi, cửa sổ kiểu bức màn thượng song hạ bản. Đền có hai lối ra vào ở hai bên, chính giữa là nghi môn ngoại (Nghi môn tứ trụ) được thiết kế kiến trúc kiểu 2 tầng 8 mái. Tiếp đó là bình phong tứ trụ được dựng ngay trên trục chính đạo, được làm bằng đá chạm trổ rất công phu và đẹp. Hai bên bình phong khắc triện gấm, ở giữa là cuốn thư, trung tâm có hai chữ Thọ Đế. Phía trên nữa là hình rồng chầu mặt nguyệt, dưới cùng là chân quỳ dạ cá, chạm hổ phù. Hai bên có hai con nghê đứng chầu, tượng trưng cho vai trò người bảo vệ kiểm soát linh hồn người ra vào. Qua bình phong tứ trụ là hai nhà bia ngoảnh mặt vào nhau song song với trục chính đạo. Nối tiếp là nhà tả vu, hữu vu. Qua khu vực này là nhà bái đường rộng lớn còn gọi là tiền đường, nơi để sửa soạn lễ, chỉnh trang trước khi hành lễ. Nhà Tiền đường có thể được xem là trung tâm của ngôi đền được thiết kế theo lối kiến thúc dân gian Việt Nam gồm ba gian, hai chái, với bốn hàng cột. Công trình được khánh thành vào ngày 7/5/2008.

Hàng năm, tại Đền thờ Vua Quang Trung có các ngày lễ quan trọng như giỗ Vua Quang Trung ngày 29 tháng 7 âm lịch; ngày 5/1 âm lịch kỷ niệm ngày chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa; ngày 1/10 DL kỷ niệm ngày Vua Quang Trung ban chiếu chỉ xây dựng Phượng Hoàng Trung Đô.

Mộ La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp
La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp (1723-1804) quê ở làng Nguyệt Ao, huyện La Sơn (nay là huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh). Ông là một nhà nho lỗi lạc, một vị qua thanh liêm, mẫn cán dưới thời vua Quang Trung.

Với cương vị Viện trưởng Viện Sùng Chính, Nguyễn Thiếp đã đề ra những cải cách về văn hóa, giáo dục của nước nhà cuối thế kỷ thứ XVIII. Trong đó, công lao lớn nhất của Nguyễn Thiếp là thực hiện chủ trương của Quang Trung: chấn hưng, đề cao chữ Nôm, đưa chữ Nôm trở thành văn tự chính thức của nước Việt. Tại triều đình, ông chủ trương dùng chữ Nôm trong các hạng sắc dụ thay chữ Hán. Ông cùng với các cộng sự dày công ở Viện Sùng Chính dịch nhiều bộ sách kinh điển quan trọng từ Hán tự sang Nôm. La Sơn Phu Tử còn là một nhà giáo có công lớn đối với nền giáo dục nước nhà. Ngay tại khoa thi Hương đầu tiên dưới triều đại Quang Trung tổ chức ở Nghệ An vào năm 1789, Nguyễn Thiếp được cử làm Chánh Chủ khảo. Ngoài Viện Sùng Chính, Nguyễn Thiếp còn được vua Quang Trung giao phó một nhiệm vụ cực kỳ hệ trọng: chọn địa điểm để xây dựng Kinh đô mới cho triều đại nhà Tây Sơn tại Nghệ An.

Khi La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp qua đời, nhân dân và con cháu đã mai táng ông tại núi Bùi Phong, xã Nam Kim, huyện Nam Đàn. Để phát huy truyền thống uống nước nhớ nguồn, giáo dục thế hệ trẻ về những giá trị lịch sử và văn hóa, Bộ VHTT đã xếp hạng mộ La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp cấp Quốc gia.

Hiện nay, mộ ông đã được Nhà nước, dòng họ tôn tạo, xây dựng thành khuôn viên đẹp trên núi Bùi Phong, có đường lên xuống dễ dàng, thuận tiện cho nhân dân và du khách mỗi khi tới thắp hương tưởng nhớ tới ông - một bâc tiên sinh tài cao, đức trọng, chí khí sáng ngời, tiêu biểu cho nhân cách của con người Việt Nam. Hàng năm, vào các dịp lễ, Tết và ngày giỗ của ông, con cháu trong dòng họ và nhân dân địa phương tổ chức lễ tế trang trọng, chu đáo.

Cùng với các địa danh khác, mộ La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp là một trong những di tích lịch sử văn hóa quan trọng nằm trong điểm đến tâm linh của du khách trong và ngoài tỉnh.

Chùa Đại Tuệ trên núi Đại Huệ
Hoàng đế Quang Trung từng cho quân sĩ vượt qua núi Đại Huệ và dừng chân nghỉ lại trên đỉnh núi Đại Huệ vào những ngày cuối cùng của năm 1788, trước khi tiến ra Bắc tiêu diệt 29 vạn quân Thanh. Tương truyền, ông đã vào thắp hương tại chùa Đại Tuệ, nhà sư trong chùa hướng dẫn ông con đường hành quân nhanh nhất trên địa bàn Nghệ An để ra Bắc.

Khi đánh thắng giặc Thanh trở về, ông lấy 20 mẫu ruộng ở địa bàn xã Nam Anh (Nam Đàn) ngày nay cấp cho chùa Đại Tuệ. Số ruộng đất này được tăng ni phật tử, nhân dân trong vùng cày cấy giúp nhà chùa. Như vậy, từ khi Hoàng đế Quang Trung còn trị vì, chùa Đại Tuệ đã có mối liên hệ gần gũi với Vương triều Tây Sơn.

Chùa Đại Tuệ là ngôi chùa cổ được xây dựng từ thế kỷ XIV để thờ Phật toạ lạc trên núi Đại Huệ, thuộc xã Nam Anh, huyện Nam Đàn. Tương truyền chùa có cách đây trên 600 năm, từ lâu đã là một không gian tâm linh hùng vĩ, thiêng liêng, không chỉ của đất Nghệ An mà còn của cả nước. Chùa nằm trên khuôn viên khoảng 600m2, ở độ cao hơn 450m so với mực nước biển trong một không gian tĩnh lặng, cảnh vật thơ mộng, hữu tình.

Trải qua thời gian hàng trăm năm với nhiều biến cố lịch sử, thiên nhiên, Chùa Đại Tuệ nay đã thành phế tích, đồ tế khí mất mát, lưu tán. Hiện nay, dấu tích còn lại của chùa là 3 bức tượng xây bằng gạch cao 2,2 m; dày 0,5 m xung quanh khuôn viên có kè đá bao quanh rộng khoảng 20 m, dài 30 m. Phía Đông có một ngôi mộ được ghép bằng đá cao khoảng 1m mà nhân dân cho rằng đó là mộ Vua Cảnh Thịnh. Cách chùa 50 m về phía Đông Bắc là một giếng nước được kè đá xung quanh dùng để phục vụ tế lễ. Cách đây hơn 10 năm, nhân dân địa phương đã tự nguyện công đức phục hồi lại một gian nhà nhỏ trên nền chùa xưa. Bộ Tư lệnh Quân khu 4 cùng một số doanh nghiệp đã góp công đức xây dựng một con đường từ chân núi lên đến di tích để thuận lợi cho nhân dân, phật tử, du khách lên thăm chùa.

Để gìn giữ và phát huy một di tích lịch sử - văn hoá có giá trị, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa tâm linh của phật tử, nhân dân trong vùng, Tỉnh uỷ, UBND tỉnh đã đồng ý việc phục dựng Chùa Đại Tuệ. Đầu tháng 10/2009, Sở VH - TT và DL đã tổ chức Hội thảo khoa học "Phục dựng Chùa Đại Tuệ" với mục đích làm rõ nguồn gốc, nội dung, kiến trúc, cảnh quan, văn hoá, hiện trạng của Chùa Đại Tuệ. Tháng 4/2010, Đại diện Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam trao Quyết định bổ nhiệm trụ trì chùa Đại Tuệ cho Thượng toạ Thích Thọ Lạc và công bố Quyết định của UBND tỉnh về việc phục dựng chùa Đại Tuệ. Việc phục dựng lại Chùa Đại Tuệ trong thời gian tới có ý nghĩa quan trọng trong việc gìn giữ, phát huy di sản văn hóa dân tộc, đáp ứng nguyện vọng thờ Phật, hướng thiện, nhu cầu sinh hoạt văn hóa tâm linh của nhân dân, đồng thời tạo thêm một công trình kiến trúc, văn hóa tâm linh đẹp, gắn với danh thắng núi Đại Huệ, mộ bà Hoàng Thị Loan để phục vụ khách tham quan du lịch trong nước và quốc tế.

Di tích thời Hoàng Đế Quang Trung trên đất Nghệ An ngoài Phượng Hoàng Trung Đô, Mộ La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, Chùa Đại Tuệ, còn có các sắc phong của Vua Quang Trung cho Đậu Yên, Đậu Khâm là hai chú cháu quê ở làng Yên Dũng Hạ, tổng Yên Trường, phủ Hưng Nguyên (nay thuộc phường Bến Thủy và Trung Đô, TP Vinh); gia đình ông Lê Quốc Cơ ở thượng huyện Anh Sơn (xưa là xã Quan Lạng, nay là xã Tường Sơn, Anh Sơn); Hồ Phi Tứ ở Quỳnh Hồng, Quỳnh Lưu; Nguyễn Sỹ Xung ở Thanh Lương, Thanh Chương; Đào Đình Truật ở Lưu Sơn, Đô Lương; Trần Suất ở An Hòa, Quỳnh Lưu. Tất cả những sắc phong này đang được bảo quản cẩn thận ở các nhà thờ họ. Riêng Đậu Yên, Đậu Khâm được nhân dân làng Yên Dũng Hạ dựng đền Tam Tòa ngày đêm hương khói, thờ phụng. Hàng năm, đến ngày Rằm tháng Giêng âm lịch, nhân ngày giỗ Đậu Yên, Đậu Khâm, nhân dân tổ chức rất long trọng để nhớ ơn hai chú cháu đã làm rạng rỡ cho quê hương, đất nước.

Nhà thờ họ Nguyễn Sỹ

http://btxvnt.org.vn/cms/?m=29&act=view&id=313
Nhà thờ họ Nguyễn Sỹ nằm ở trung tâm làng Tú Viên, Tổng Xuân Lâm nay là xã Thanh Lương, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Di tích cách thành phố Vinh 26 km về hướng Đông. Từ thành phố Vinh, theo đường quốc lộ 46, đến km 28 rẽ hướng Tây Nam, theo đường Nguyễn Sỹ Sách khoảng 15 km là đến nhà thờ họ Nguyễn Sỹ.

Từ xưa, xã Thanh Lương đã có truyền thống yêu nước và khoa bảng. Trong xã có 6 dòng họ: Nguyễn Sỹ, Nguyễn Trí, Nguyễn Trọng, Nguyễn Đình, Nguyễn Công và Phan Văn, họ Nguyễn Sỹ nổi tiếng nhất. Về khoa cử có Phó bảng Nguyễn Sỹ Ấn, Tiến sỹ Nguyễn Đình Điển, Cử nhân Nguyễn Sỹ Lạng…Anh hùng hào kiệt có danh tướng Nguyễn Sỹ Xung, Nguyễn Sỹ Quyển, Nguyễn Sỹ Biểu.

Nhà thờ họ Nguyễn Sỹ gắn liền với những nhân vật, sự kiện lịch sử tiêu biểu. Theo gia phả họ Nguyễn Sỹ để lại đã có nhiều người tham gia phong trào yêu nước và đóng góp công sức xây dưng quê hương, đất nước.

- Danh tướng Nguyễn Sỹ Xung. Dưới triều vua Lê Hiển Tông ( Cảnh Hưng 1740-1788 ), ông đã tham gia 18 năm trong quân đội thời Hậu Lê ( 1762- 1780 ). Nguyễn Sỹ Xung là bậc trung quân ái quốc giữ chức “ Tráng tiết tướng quân phó Thiên hộ chức”. Nguyễn Sỹ Xung được vua Lê Hiển Tông phong hai đạo sắc năm Mậu Ngọ ( 1784). Năm 1787, khi quân Tây Sơn tiến ra Bắc, trên đường đi qua Nghệ An dừng lại để chiêu mộ thêm binh tướng, ông được Quang Trung chọn làm ưu binh cận thần. Con em làng Tú Viên, Xuân Bảng, Xuân Đường, Xuân Trường, Võ Liệt…đi theo Nguyễn Sỹ Xung.tham gia rất đông vào đội quân của Quang Trung. Ông góp phần cùng Nguyễn Huệ vạch ra chiến thuật hành quân thần tốc từ Phù Thạch ra Ngọc Hồi: cứ 3 người một võng, 1 người nằm trên 2 người khiêng, khi mệt thì thay phiên nhau. Sau trận đại thắng Tết Kỷ Dậu, ông được vua Quang Trung thưởng 2 đạo sắc và phong chức “Trung công tiết chế”.

- Nguyễn Sỹ Quyển, con trai Nguyễn Sỹ Xung cũng tham gia nghĩa quân với cha và được giữ chức “ Biền binh thư lại”.

- Nguyễn Sỹ Biểu, em trai Nguyễn Sỹ Xung là người thông minh, giỏi võ, có tinh thần quả cảm luôn được mọi người kính nể. Ông được chọn làm Tổng hội Hội trưởng dưới thời vua Minh Mạng. Năm Minh Mạng thứ 15, Nguyễn Sỹ Biểu được vua ban Đạo sắc vì có công “dẹp bọn cướp bóc ức hiếp nhân dân”.

Qua các kỳ thi, dòng họ Nguyễn Sỹ đều có người đỗ đạt cao:
- Nguyễn Sỹ Lạng (tức Nguyễn Thúc Hằng) đậu Cử nhân khoa Canh Ngọ 1870, không ra làm quan mà về quê mở lớp dạy học tại nhà thờ, học trò theo học rất đông. Khoảng năm 1888-1889, cụ Lạng xuống làng Đan Nhiệm, huyện Nam Đàn dạy học. Phan Bội Châu cũng là một trong rất nhiều học trò của cụ, Sau khi Phan Bội Châu đỗ đầu thi Hương- Giải Nguyên đã lên Thanh Chương tìm bạn đồng khoa và đến nhà thờ họ Nguyễn Sỹ thắp hương, tặng bức trướng để cảm tạ thầy Lạng.

- Nguyễn Sỹ Ấn đậu Phó bảng khoa Giáp Thìn 1844. Năm 1846, triều đình nhà Nguyễn mời ông vào kinh đô Huế làm Hàn lâm viện Kiểm khảo. Liên tiếp thời gian sau này, ông làm Tri huyện kim Thành, Bố Trạch Quảng Bình, phúc khảo trường Hà Nội, Tri phủ Kiến Thuỵ tỉnh Thái Bình. Năm Nhâm Tý 1852, Nguyễn Sỹ Ấn được mời về kinh đô làm Thị giảng Hàn lâm Viện. Tại đây ông gặp Nguyễn Sinh Sắc và đã giúp đỡ gia đình ông Sắc bà Loan ổn định chỗ ăn ở. Sau khi đậu Phó bảng, Nguyễn Sinh Sắc hành hương về quê. Ông cùng hai con Nguyễn Sinh Khiêm và Nguyễn Sinh Cung lên nhà thờ họ Nguyễn Sỹ hai lần để thắp hương cảm tạ thầy Nguyễn Sỹ Ấn, tặng nhà thờ 2 câu đối và cũng là dịp tìm hiểu, trao đổi với các sỹ phu về thời cuộc.

- Nguyễn Đình Điển đỗ Tam giáp Tiến sỹ khoa thi Hội năm 1901 ở làng Xuân Hồ, Nam Đàn là con rể của cụ Nguyễn Sỹ Ấn.
Khi phong trào Văn Thân bùng nổ, Thanh Chương là nơi khởi đầu do Trần Tấn và Đặng Như Mai lãnh đạo. Nhà thờ là điểm hội tụ của giới sỹ phu trong tổng và huyện bàn việc cứu nước. Trong một cuộc họp, họ đã bàn kế hoạch rào làng để chặn bước tiến quân giặc, bảo vệ nghĩa quân của Trần Tấn và Đặng Như Mai. Nhân dân địa phương còn đóng góp nhiều tiền, gạo và nuôi dấu bảo vệ nghĩa quân.

Hưởng ứng phong trào Cần Vương của cụ Phan Đình Phùng, ở Thanh Chương có nhiều sỹ phu yêu nước tham gia tích cực như Bùi Văn Huân, Nguyễn Đình Cát, Nguyễn Sỹ Lạng, Nguyễn Sỹ Vơn, Văn Đinh Nịu… Nguyễn Sỹ Vơn là đời thứ 8 của họ Nguyễn Sỹ vốn nổi tiếng giỏi võ và phi ngựa. Ông đã chiến đấu anh dũng chống quân Pháp tại Lạch Quèn, Cửa Hội và bị thương nặng, về đến núi Mượu thì chết. Lúc đó, Nguyễn Sỹ Vơn mới 26 tuổi.

- Nhà thờ là nơi gắn bó với cuộc đời của đồng chí Nguyễn Sỹ Sách, một cán bộ tiền bối kiên trung của Đảng.
Nguyễn Sỹ Sách sinh năm 1905 là cháu đời thứ 10 của dòng họ Nguyễn Sỹ. Thân sinh anh là Nguyễn Sỹ Giản, một nhà nho nghèo, tính tình cương trực, khảng khái. Ông đã hai lần đi thi Hương chỉ đỗ Tú tài, ở nhà mở trường dạy học. Năm 17 tuổi Nguyễn Sỹ Sách đỗ bằng Thành chung, khoá đầu tiên trường Quốc học Vinh cùng với Tôn Quang phiệt và Đặng Thai Mai. Vua Bảo Đại có mời vào Huế làm quan nhưng anh không nhận. Dạy ở Quốc học Vinh được một năm, Nguyễn Sỹ Sách được bổ vào dạy tại trường Tiểu học Pháp- Việt Hà Tĩnh. Tại đây, anh đã tham gia tích cực những hoạt động yêu nước. Năm 1925, Nguyễn Sỹ Sách cùng với Tôn Quang Phiệt, Trần Phú, Lê Huân thành lập Hội Phục Việt- một tổ chức cách mạng của trí thức yêu nước. Dò la được những hoạt động của anh trong trường, nhiều lần đốc học và công sứ cho gọi lên vừa dụ dỗ, vừa trấn áp. Năm 1926, Nguyễn Sỹ Sách về quê bắt liên lạc với cụ Đốc Tám, đứng ra thành lập Hội “Khuyến học”. Các lớp học trong làng và tại nhà thờ là nơi Nguyễn Sỹ Sách tuyên truyền thơ ca cách mạng, sách báo báo bí mật với đông đảo học sinh, thanh niên trong vùng.

Năm 1927, Nguyễn Sỹ Sách được Hội Hưng Nam cử sang Quảng Châu, Trung Quốc dự lớp huấn luyện chính trị của đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Sau khi về nước, Nguyễn Sỹ Sách được cử làm Bí thư Kỳ bộ Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội ( VNTNCMĐCH ). Tháng 5/1929, đồng chí dẫn đầu đoàn đại biểu của tổ chức VNTNCMĐCH Trung Kỳ sang Hương Cảng dự Đại hội Tổng bộ. Đồng chí được bầu là Uỷ viên BCH Tổng hội đặc trách công tác trong nước.Dưới sự lãnh đạo của đồng chí Nguyễn Sỹ Sách, nhiều Chi bộ cộng sản ra đời và hoạt động mạnh bên cạnh Kỳ bộ Đông Dương cộng sản Đảng lãnh đạo phong trào quần chúng đấu tranh. Ngày 21-7-1929, đồng chí bị địch bắt, kết án và đưa vào giam tại Lao Bảo. Ở Lao Bảo, Nguyễn Sỹ Sách đã lãnh đạo anh em tù chính trị đấu tranh phản đối chính sách dã man của thực dân Pháp. Trong một cuộc xô xát với tên Công Bơ, Nguyễn Sỹ Sách dùng chiếc chiếu quất vào mặt hắn. Ngay lập tức, bọn tay sai đã bắn chết đồng chí lúc 17 giờ, ngày 19-12-1929. Nguyễn Sỹ Sách hy sinh anh dũng đã trở thành tấm gương và dấy lên tinh thần đấu tranh mạnh mẽ của anh em trong tù cũng như các đồng chí của tổ chức Tổng bộ VNTNCMĐCH.

Trong cao trào cách mạng 1930-1931, nhà thờ họ Nguyễn Sỹ là nơi hội họp, in ấn, cất dấu tài liệu của Đảng
Tháng 9 năm 1930, tại đây, dưới sự chỉ đạo của các đồng chí cán bộ Tỉnh uỷ Nghệ An: Nguyễn Tiềm, Đặng Chánh Kỷ, Nguyễn Hữu Bình và các đồng chí: Tôn Gia Tinh, Tôn Thị Quế, Nguyễn Sỹ Đức, Nguyễn Đình Thốc đại diện cho Huyện uỷ Thanh Chương, Tổng uỷ Xuân Lâm tiến hành Hội nghị thành lập Chi bộ Đảng Quang Trung- Chi bộ ghép của Tú Viên với nửa làng Xuân Bảng và nửa làng Xuân Dương, do đồng chí Nguyễn Sỹ Tâm làm Bí thư.

Sau khi Chi bộ ra đời, các tổ chức quần chúng như: Nông hội đỏ, tự vệ đỏ, thanh niên, Hội ái hữu tương tế.. cũng lần lượt được thành lập.

Nhà thờ họ Nguyễn Sỹ là nơi Huyện uỷ, Tổng uỷ Xuân Lâm làm việc từ tháng 9 năm 1930 đến tháng 1 năm 1931 để chỉ đạo phong trào Xô Viết vùng Hạ Thanh Chương. Ngày 25/8/1930, Huyện uỷ họp bàn quyết định tổ chức một cuộc biểu tình qui mô rộng lớn toàn huyện vào ngày 1/9/1930. Để chuẩn bị cho cuộc biểu tình, bộ phận ấn loát chuyển về nhà thờ in ấn truyền đơn, tài liệu. Hàng trăm tờ truyền đơn, báo Nhà Quê, báo Tiến Lên, Chỉ thị, Nghị quyết được in ra và chuyển đi cơ sở trong huyện Thanh Chương, Nam Đàn. Tối 1- 9- 1930, Huyện uỷ cùng với các Chi bộ Đảng trong Tổng Xuân Lâm họp tại nhà thờ bàn việc tổ chức truy điệu liệt sỹ Nguyễn Công Thường, người hy sinh anh dũng trong cuộc biểu tình toàn huyện.

Nhà thờ họ Nguyễn Sỹ là nơi các đồng chí Nguyễn Tiềm- Bí thư Tỉnh uỷ Nghệ An, Lê Xuân Đào- Uỷ viên Xứ uỷ Trung Kỳ, Đặng Chánh Kỷ, Tôn Gia Chung, Tôn Thị Quế, Tôn Gia Tinh, Võ Thúc Đồng…những cán bộ của Tỉnh uỷ, Huyện uỷ về đây trực tiếp chỉ đạo phong trào đấu tranh ở vùng hạ Thanh Chương. Trong thời gian đó, con cháu và nhiều gia đình họ Nguyễn Sỹ đã canh gác cho tổ ấn loát làm việc, cất dấu tài liệu, phục vụ, nuôi dấu cán bộ cách mạng. Khi chính quyền Xô Viết ra đời ở các thôn xóm, nhà thờ Nguyễn Sỹ là nơi học chữ Quốc ngữ cho nhân dân trong vùng.

Năm 1930- 1931,dòng họ Nguyễn Sỹ có 17 đảng viên, 10 liệt sỹ, 19 người bị bắt giam, 6 gia đình được cấp Bằng Có công với Nước.

Trong thời kỳ chống mỹ cứu nước, nhà Hạ đường là kho lương thực, kho nông sản của tỉnh nghệ An.
Nhà thờ họ Nguyễn Sỹ được dòng họ lập nên để thờ các vị Tiên Tổ có công với nước với dân. Theo phong tục xưa, hàng năm tại nhà thờ tổ chức lễ Đại được vào Rằm tháng Giêng và lễ Rằm vào ngày 15 tháng 7 Âm lịch; ngày 27-7, các tổ chức của huyện và xã thường đến nhà thờ thắp hương tưởng nhớ đồng chí Nguyễn Sỹ Sách.

Nhà thờ họ Nguyễn Sỹ được xây dựng năm 1600, diện tích khuôn viên là 580 m2; gồm có : cổng, 2 nhà Thượng đường và Hạ đường, sân.
- Cổng nhà thờ cao 4m, trên đỉnh cột cổng có đắp 2 con ghê.
- Nhà Hạ đường có 3 gian, 2 hồi, kiến trúc kiểu tứ trụ tam oai. Các đuôi kèo trạm trổ hoa lá cành, các hạ xà kiến trúc kiểu vỏ măng chỉ kềm và trạm hình triệu long. Nhà Hạ có chiều cao từ nóc xuống mặt nền là 4,2m; chiều dài 9,2m, rộng 6,6m. Nhà có 14 cột; cột lớn nhất cao 3,7m, đường kính 0,25m; chân cột kê bằng đá xanh được tạo theo khối vuông, rãnh tròn, kích thước là 0,3m x 0,3m x 0,12m. Nhà Hạ có 12 cánh cửa bàn khoa, lợp ngói vảy, trên đỉnh nóc có đắp hình lưỡng long triều nguyệt.
Kết cấu dọc : 1,03- 2,33- 2,55- 2,33- 1,03.
Kết cấu ngang : 1,15- 1,20- 1,92- 1,20- 1,15.

Bài trí nội thất : giữa nhà treo 2 bức cuốn thư, 2 cột treo câu đối của Tiến sỹ Nguyễn Đình Điển và của cụ Cử Lạng. Gian giữa có 2 yến thư, một bộ phản nơi các sỹ phu văn thân Cần Vương gặp gỡ luận đàm việc nước. Hai gian bên có 2 yến thư, một lá cờ Đảng ( năm 1986 không còn do cờ bị mục nát ), 1 chiêng, 2 trống ( năm 1930-1931, chiêng, trống được dùng trong các cuộc biểu tình ).

Nhà Thượng đường có 3 gian, chiều cao từ nóc xuống mặt nền là 4m, chiều dài nhà 7m, rộng 6m. Mái lợp ngói vảy, kiến trúc kiểu tứ trụ tam oai, kẻ xông chồng đấu, trạm trổ hoa lá ở các đường hạ và các chồng đấu với đường nét sắc sảo, trên đỉnh nóc có hình lưỡng long triều nguyệt. Tất cả gỗ làm nhà thờ bằng gỗ lim ròng, xung quanh xây đá ong, trét vôi hàu. Nhà có 8 cánh cửa bàn khoa và ván dật; 18 cột, cột lớn cao 2,7m, đường kính 0,22m; chân chân cột kê bằng đá hình tròn vân núi, đường kính 0,04m, cao 0,02m.

Kết cấu dọc nhà Thượng đường : 1,95m- 2,5m- 1,95m.
Kết cấu ngang nhà Thượng đường : 1m- 1m- 1,75m- 1m- 1m.
Bài trí nội thất : Gian giữa treo cuốn thư, hoành phi và bức đại tự. Bức hoành phi của cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc tặng nhà thờ có nội dung “ Thi thư thạch”, nghĩa là ca ngợi truyền thống học hành thi cử của dòng họ Nguyễn Sỹ.

Gian giữa có bệ thờ ba bậc. Bậc thứ nhất ( trên cùng ) để tủ gỗ sơn son thiếp vàng, trạm hình lưỡng long triều nguyệt. Tủ đựng 5 đạo sắc vua ban, đã từng cất dấu hàng trăm tờ truyền đơn, báo chí, nghị quyết của Đảng trong thời gian Tổng uỷ Xuân Lâm và tổ ấn loát làm việc tại đây.

Bậc thứ hai bài trí mâm gỗ cổ bồng, mâm chè.
Bậc thứ ba có : 1 mâm gỗ cổ bồng sơn son thiếp vàng để mũ của danh tướng “ Trung quân tiết chế” Nguyễn Sỹ Xung, 2 mâm chè, 1 giá gương sơn son thiếp vàng để bài cúng, 1 yến thư, 2 cọc đèn sáp, 1 lư hương, 2 lọ hoa.

Gian phía tả và phía hữu đều có bàn thờ xây bằng đá 3 tầng để linh toạ sơn son thiếp vàng và các mục chủ ghi tên tuổi sự nghiệp của từng cụ, trong đó có đ/c Nguyễn Sỹ Sách; có 2 yến thư. Trước hiên nhà Thượng đường có 2 cột quyết, trang trí hình tứ phượng ngũ lâu và hai câu đối của cụ Nguyễn Sinh Sắc tạ ơn thầy Phó bảng Nguyễn Sỹ Ấn.

- Sân nằm giữa Thượng đường và Hạ đường, rộng 2,6m , có bể cạn xây bằng đá xanh để đựng nước cúng.

Với những giá trị lịch sử, khoa học, nhất là nơi ghi dấu những sự kiện phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930-1931, nhà thờ họ Nguyễn Sỹ được Bộ VHTT cấp bằng di tích Quốc gia, Quyết định số 985, ngày7/5/1997.

Những con đường đau khổ


TTO - Tiên Kỳ là xã hẻo lánh thuộc huyện Tân Kỳ - tỉnh Nghệ An. Xã chỉ có con đường duy nhất dài khoảng 20 km nối với trung tâm huyện. Hơn nửa năm nay, con đường độc đạo này ngập trong bùn đỏ.
Học sinh đến trường bằng xe trâu - Ảnh: NGUYỄN TIẾN DŨNG
Để tiếp cận con đường khốn khổ này, chúng tôi phải gửi xe cách 5km và lội bộ hơn 1 tiếng đồng hồ mới đến được những đoạn đường trọng điểm của sình lầy.
Anh Chiến ở xóm 7. Anh đã bức xúc thổ lộ: “Đã năm tháng ni rồi chú ạ, đường bẩn nỏ muốn đi mô, tui là dân xe tải mà gửi xe cách đây 7 km, quết bộ về nhà”. Rồi anh nói thêm: "Trước đây tuy đường không tốt lắm nhưng cũng đi được, từ khi xã cho đổ lớp đất đỏ ni thì không thể đi nổi nữa”.
Chúng tôi tiếp tục đi sâu vào xã, trên đường chúng tôi không tin nổi vào mắt mình nữa. Những cụ già, em nhỏ, học sinh, nông dân lấm lem bùn đất. Gặp chúng tôi, hai người thanh niên tên Thiên và Lẻ ở xóm 10 vẻ mệt mỏi nói: “Tình trạng ni chúng em ế vợ hết anh ạ, nỏ mần được chi ở nhà uống rượu cho hết ngày”.
Con đường và phương tiện đến trường của em - Ảnh: NGUYỄN TIẾN DŨNG
Cậu học trò nhỏ mang cơm, lội bùn đi học - Ảnh: NGUYỄN TIẾN DŨNG
Bùn đỏ ngập các ngả đường. Người ta không còn phân biệt đâu là đường đâu là ruộng.
Bà mẹ mang thai dắt con đi trong bùn lầy - Ảnh: NGUYỄN TIẾN DŨNG
Mặt đường hoá bùn - Ảnh: NGUYỄN TIẾN DŨNG
Hai thanh niên đang cố vượt một đoạn sình lầy - Ảnh: NGUYỄN TIẾN DŨNG
Có em đã cưỡi trâu đi học. Đến trường buộc trâu ở ngoài, hết giờ học lại cưỡi trâu về. Một số em ở gần nhà nhau thì tổ chức thành nhóm, dùng xe trâu đi học. Cách làm này có vẻ tiện dụng vì chở được nhiều người và đỡ bẩn hơn. Nhưng như lời người dân ở đây thì trâu cũng không đủ sức để kéo người từ tháng này sang tháng khác được.
Một người dân bảo: “Trâu cũng đoạ, huống chi là người”.
Gặp mưa con đường trở nên nhão nhoẹt khủng khiếp. Mùi hôi tanh bốc lên từ bùn lẫn phân trâu đang đe doạ sức khoẻ người dân và nguy cơ dịch bệnh có thể bùng phát bất cứ lúc nào.
Chủ tịch UBND huyện Tân Kỳ (Nghệ An) Nguyễn Duy Thủy, cho biết sau trận lũ vừa qua hai ngầm tràn Khe Thần và Khe Lòa trên tuyến đường quốc phòng Trại Lạt (huyện Tân Kỳ) - Cây Chanh (huyện Anh Sơn) bị cuốn đứt hàng chục mét. Nước lũ dâng cuồn cuộn làm ngập một số đoạn đường này, gây úng ngập đường và ách tắc giao thông. Huyện phải làm bè để khắc phục việc chở dân qua lại.
Do sự cố vượt quá khả năng khắc phục của huyện nên huyện đã báo cáo UBND tỉnh và Ban chỉ huy phòng chống lụt bão tỉnh. Tỉnh đã lập đoàn kiểm tra trong đó có giám đốc Sở Giao thông vận tải Nghệ An và các cơ quan liên quan để sớm có biện pháp giải phóng tuyến đường. Hiện huyện đang xử lý theo hai hướng chỉ đạo của tỉnh: Một, làm rọ đá kè thành ngầm đá để dân đi lại. Hai, làm thiết kế để xây dựng cầu mới.

Thanh Lương – Vùng quê giàu truyền thống cách mạng




(Baonghean) - Người dân xã Thanh Lương (Thanh Chương, Nghệ An) rất đỗi tự hào bởi trên mảnh đất quê hương mình có khá nhiều di tích lịch sử, là những minh chứng sinh động cho bề dày truyền thống về lịch sử- văn hóa của một vùng quê.

Mảnh đất này hiện có tới 4 di tích được nhà nước xếp hạng, trong đó 2 di tích được xếp hạng quốc gia (nhà thờ họ Nguyễn Sỹ và nhà thờ Nguyễn Sỹ Sách) và 2 di tích xếp hạng cấp tỉnh (nhà thờ họ Nguyễn Duy, nhà thờ và mộ tổ dòng họ Chu).


Nhà thờ Nguyễn Sỹ Sách, Di tích lịch sử- văn hóa quốc gia
Theo gia phả, dòng họ Nguyễn Sỹ đến vùng đất Cồn Lim khai phá đất đai và lập nên làng Tú Viên (nay là xã Thanh Lương) đến nay đã trải qua 15 đời. Theo thời gian, dòng họ này ngày càng phát triển và đã sản sinh ra nhiều bậc khoa bảng và võ tướng làm rạng danh quê hương, đất nước. Chính những người con của dòng họ Nguyễn Sỹ xã Thanh Lương đã góp phần làm nên truyền thống yêu nước và khoa bảng của mảnh đất Nghệ An nói chung và Thanh Chương nói riêng. Có thể kể ra những nhân vật tiêu biểu như danh tướng Nguyễn Sỹ Xung (đời Hậu Lê), từng tham gia quân đội 18 năm và được phong đến chức Tráng tiết tướng quân phó Thiên hộ chức. Về sau, ông cũng là một trong những cận thần của Bắc Bình vương Nguyễn Huệ, có công lớn trong việc đánh đuổi quân xâm lược nhà Thanh. Em trai Nguyễn Sỹ Xung là Nguyễn Sỹ Biểu từng được vua Minh Mạng (nhà Nguyễn) ban đạo sắc vì có công “dẹp bọn cướp bóc ức hiếp nhân dân”. Con trai Nguyễn Sỹ Xung là Nguyễn Sỹ Quyển cũng từng được giữ chức Biền binh thư lại.

Về truyền thống khoa bảng, có Nguyễn Sỹ Lạng (tức Nguyễn Thúc Hằng) đỗ Cử nhân khoa Canh Ngọ (1870) nhưng không ra làm quan mà về quê làm nghề “gõ đầu trẻ”. Nguyễn Sỹ Ấn đỗ Phó bảng năm Giáp Thìn (1844) và được triều đình nhà Nguyễn phong chức Hàn lâm viện Kiểm khảo và sau đó làm Thị giảng Hàn Lâm viện...

Qua các thời kỳ đấu tranh chống thực dân Pháp, nhà thờ họ Nguyễn Sỹ là điểm hội họp cuả giới sỹ phu khắp các vùng để bàn bạc con đường cứu dân, cứu nước. Đặc biệt, trong cao trào Xô viết Nghệ - Tĩnh (1930- 1931), đây chính nơi hội họp, in ấn và cất dấu tài liệu của Đảng. Tại đây, cuối năm 1930, dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy Nghệ An, Tổng ủy Xuân Lâm tiến hành Hội nghị thành lập Chi bộ Đảng Quang Trung do đồng chí Nguyễn Sỹ Tâm làm Bí thư. Đồng thời, nhà thờ họ Nguyễn Sỹ còn là nơi gắn bó với cuộc đời của đồng chí Nguyễn Sỹ Sách, một cán bộ cách mạng tiền bối và trung kiên của Đảng. Nhà thờ họ Nguyễn Sỹ được con cháu đời sau lập nên để thờ các vị Tiên tổ có công với nước, với dân. Hàng năm, dòng họ tổ chức lễ đại vào Rằm tháng Giêng và lễ Rằm vào 17/5 Âm lịch. Và vào ngày Thương binh liệt sỹ (27/7) hàng năm, các ban ngành, đoàn thể cấp huyện và xã đến đây thắp hương tưởng nhớ đồng chí Nguyễn Sỹ Sách.


Đền Cả, nơi diễn ra các hoạt động văn hóa tâm linh của cộng đồng
Tổ tiên dòng họ Nguyễn Duy ở Thanh Lương cũng là những người đến khai phá vùng Cồn Lim- Kẻ Ó và góp phần biến vùng đất hoang sơ này trở thành một miền quê đông vui, trù phú. Từ mảnh đất này, dòng họ Nguyễn Duy đã có những con người làm nên sự nghiệp vẻ vang, góp phần xây đắp truyền thống quê hương, là những tấm gương của muôn đời con cháu. Thời Tây Sơn, có Nguyễn Duy Địch, Nguyễn Duy Mờn, Nguyễn Duy Năm đã góp phần giúp vua Quang Trung đại phá quân Thanh, làm nên nghiệp lớn và được triều Tây Sơn ghi nhận công lao bằng việc ban tặng 5 đạo sắc. Trong cao trào Xô Viết Nghệ- Tĩnh, con em dòng họ Nguyễn Duy hăng hái đứng vào hàng ngũ đấu tranh chống áp bức, cường quyền. Tiêu biểu như Nguyễn Duy Trâm, Nguyễn Duy, Nguyễn Duy Tiên, Nguyễn Duy Từ, Nguyễn Duy Thịnh... Và nhà thờ họ Nguyễn Duy được chọn làm cơ sở in ấn tài liệu tuyên truyền của Đảng. Đây cũng là nơi các đồng chí lãnh đạo Đảng họp bàn và soạn thảo kế hoạch đấu tranh với địch, là 1 trong 8 địa chỉ đỏ trong cao trào Xô Viết Nghệ- Tĩnh ở Thanh Chương.

Xin được nói thêm rằng, từ đường họ Nguyễn Duy là nơi thờ các vị tổ tiên, trong đó có những nhân vật được ghi danh vào sử vàng dân tộc. Đó là Đinh Quốc Công Nguyễn Bặc - thủy tổ của dòng họ, người có công giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân, lập nên vương triều mới. Là Nguyễn Trãi - Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới, vị quân sư đắc lực của Lê Lợi, người có công lớn trong việc đánh thắng giặc Minh, đưa dân tộc ta thoát khỏi tai họa. Là Nguyễn Anh Vũ, người con duy nhất của Nguyễn Trãi sống sót sau thảm án Lệ Chi viên. Đây còn là nơi thờ Nguyễn Duy Hiền và Nguyễn Duy năng, những người đầu tiên của dòng họ đến đây khai đất lập làng.

Cùng với họ Nguyễn Sỹ và Nguyễn Duy, dòng họ Chu cũng đến vùng đất Kẻ Trằm từ khá sớm. Và dòng họ này cũng đã sinh ra những bậc danh nhân, công thần của đất nước. Người đầu tiên là Tiến sỹ Nghĩa quận công Chu Tất Thắng, đỗ đại khoa lúc mới 18 tuổi, văn võ song toàn và lập được nhiều chiến công dưới triều Hậu Lê. Tiếp đến là Tiến sỹ Bút xuyên hầu Chu Quang Trứ, từng giữ chức Hộ bộ tả thị lang, kiêm Giám sát ngự sử và được triều Hậu Lê phong Bút xuyên hầu. Tiến sỹ Văn Thụy hầu Chu Dy Hiến, một vị quan văn võ toàn tài, thanh liêm và yêu thương dân hết mực. Năm 1619, Chu Dy Hiến được vua Lê Thần tông thăng chức Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu Đề hình Thập tam đạo, phong tước hầu và được ban tặng đôi “Thượng phương bảo kiếm”. Con trai của ông là Giáp quận công Chu Phụng Huệ được phong chức Thiếu bảo hữu phủ.

Gia phả dòng họ Chu còn nhắc tới Nhị vị cung phi, hoàng hậu Chu Nhũ Nhân, hiện chỉ mới xác định được danh tính một người là bà Chu Thị Ngọc Quỳnh. Bà sinh năm 1632, là con gái của Chu Phụng Trực. Là một người tài sắc vẹn toàn nên năm 16 tuổi Ngọc Quỳnh được tuyển vào cung. Sau đó, Ngọc Quỳnh được gả cho Thái bảo quận công Trịnh Xuân và được phong là Á vương phi. Năm 19 tuổi, chồng qua đời, bà quyết định thủ tiết thờ chồng. Cảm kích trước tấm lòng và đức hạnh của người con gái họ Chu, vua cho bà về quê cai quản cả một vùng đất đai. Vào dịp đón Xuân Tân Mão (năm 2011), con cháu gần xa vinh dự đón nhận bằng công nhận Di tích lịch sử- văn hóa của nhà thờ và mộ tổ dòng họ Chu.

Ngoài ra, trên địa bàn xã Thanh Lương hiện nay còn có sự hiện diện của đền Cả, một di tích lịch sử- văn hóa, là nơi gửi gắm tâm linh của toàn thể cộng đồng. Theo các bậc cao niên trong xã, đền Cả có từ rất lâu đời, là nơi thờ Thánh Đức vận đô thiêng, vị thần đã chở che và phù hộ cho cuộc sống yên bình, trù phú của làng Tú Viên. Một thời gian dài, do điều kiện chiến tranh, người dân nơi đây không có điều kiện chăm sóc hương khói và tu bổ nên đền bị xuống cấp nghiêm trọng. Từ năm 2000, người dân xã Thanh Lương đã góp của, góp công để phục dựng lại ngôi đền Cả trên nên đất cũ và tổ chức tế lễ vào dịp 24/2 Âm lịch hàng năm.

Ngày nay, các thế hệ con cháu của các dòng họ ở Thanh Lương luôn nỗ lực trong học tập, nghiên cứu khoa học và lao động sản xuất, góp phần xây dựng quê hương để mãi xứng đáng với truyền thống tổ tiên đã bao đời gây dựng.

Đường vô Xứ Nghệ quanh quanh



Sông Lam - núi Hồng chụp từ trên máy bay



Hoan Châu phong cảnh - sông Lam là vệt sáng ngoằn nghoèo giữa 3 dãy núi, cắt đôi địa phận hai tỉnh, bên trái là Hà tĩnh, bên phải là Nghệ An


Sông Lam đoạn cuối nguồn đổ ra cửa Hội

"Sông Lam - núi Hồng quấn quýt bên nhau" chính là đoạn này, ranh giới Nghi Xuân và Can Lộc, ảnh chụp hướng vể phía Vinh


Và "Sông Lam - núi Hồng quấn quýt bên nhau" đạon này chụp hướng về phía Hà Tĩnh, đứng dây lúc này phía Vinh thì nắng chang chang và phía Hà Tĩnh thì mưa, đến khi xe tôi chạy về đến Can Lộc thì Vinh mưa, còn Can Lộc đã tạnh. Do đó tôi được tiếng là "đi đến mô trời dợ đến đó"


Buổi sang, sương và mây còn đang giăng mớ phía Hồng Lĩnh, phong cảnh thôn quê thanh thản lạ, cảm giác của tôi lúc này, quê hương sao mà hiền lành, bình dị quá!


Bình minh lên trên sông Lam - Những thanh niên trên thuyền thấy tôi dơ máy ảnh lên nên dơ tay vẫy chào lại


Sông Lam đoạn chảy qua Thanh Chương (cầu Rộ)


Sông Lam đoạn chảy qua Nam Đàn - bên tê sông là Đức Thọ




Sông Lam chụp từ trên núi Quyết


Con đường ven sông Lam


Đứng từ con đường ven sông Lam (TP Vinh) mà chụp thì bên tê là Nghi Xuân & Can Lộc


Thị xã Hồng Lĩnh (Bãi Vọt) - chụp từ trên tầng 5 của KS Thai


Chiều Can Lộc - con sông nhỏ này là đấu nguồn sông Minh


Hoàng hôn cửa Hội


Thị trấn Thạch Hà (còn gọi là thị trấn Cày)


Biển Thiên Cầm xôn xao mùa nắng


Sa Nam trên chợ dưới đò


Sen trong khu trưng bày kỷ vật của Bác Hồ


Rào Gang - Thanh Chương


Ngô xanh xanh cả tứ bề xóm trên


Nam Liệu - Nam Đàn

Núi Nghìn (Thiên Nhẫn)

Bài viết của Bùi Hoàng Đào, ảnh của Hoàng Việt Hùng
Dãy Thiên Nhẫn - Chụp từ đồi Quần Hội
Cứ mỗi độ xuân về nhất là vào tiết thanh minh đất trông sáng du khách có thể đứng ở bờ Nam bến nước Tam Soa hoặc km số 0 của Đê La Giang phóng tầm mắt về hướng Tây Bắc sẽ thấy một dãy núi trùng điệp như muôn ngàn con Chiến Mã đang phi nước đại về  phương nam có dãy núi Thiên Nhẫn .         
Ngày xưa các tao nhân, mặc khách mỗi lần về thăm núi Thiên Nhẫn, trước vẻ đẹp của núi, của sông ai cũng tò mò muốn lý giải vì sao cổ nhân lại đặt tên cho dãy núi này hai chữ “Thiên Nhẫn”. Người thì cho hai chữ Thiên Nhẫn xuất phát từ độ cao của núi hơn nghìn thước. Người thì dựa vào thế núi điệp trùng đứng xa trông giống như một hình lưỡi cưa muốn cưa đôi bầu trời nên gọi là Thiên Nhẫn. Nhân dân các xã ven chân núi như xã Nam Kim (Nam Đàn), xã Trường Sơn, Tùng ảnh (Đức Thọ ), xã Sơn tân (Hương Sơn) dựa vào truyền thuyết núi có 999 đỉnh mà đặt tên cho núi là “Rú Nghìn” tức Thiên Nhẫn. Theo các tài liệu khoa học, dãy núi Thiên Nhẫn được hình thành vào khoảng Đại Tân Sinh cùng một lúc với đới Hoành Sơn và Trà Sơn. Núi trải dài trên địa phận 4 huyện thuộc 2 tĩnh Nghệ An, Hà Tĩnh bao gồm: Thanh Chương, Nam đàn, Đức Thọ và Hương Sơn . 
Núi khởi đầu từ làng Bích Triều (huyện Thanh Chương tỉnh Nghệ An) chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam và kết thúc ở chân núi chùa (còn gọi là cụm núi Việt Sơn) cao hơn 50m đứng ở sát bến nước Tam Soa, ba phía là ba ngôi làng nỗi tiếng nhất vùng Tùng Lĩnh – La Giang  đó là làng  Đậu Xá và Tân Sơn huỵên Hương Sơn ở phía Tây Bắc, làng Vĩnh Khánh xã Trường Sơn ở phía Đông và làng Tùng ảnh (còn gọi là Việt yên Hạ) thuộc huyện Đức Thọ ở phía Đông Nam. Tương truyền trong số hàng nghìn đỉnh núi có độ dài bình quân từ 150 – 200mét, vọt lên ba đỉnh núi cao nhất mà nhân dân địa phương gọi là “Tam Thai”gồm đỉnh Động Bút cao 240mét, đỉnh Động Trọ Voi cao 253 mét và đỉnh động Thiên Nhẫn cao 254 mét, trong ba đỉnh nói trên thì đỉnh Động TrọVoi là ngọn động chủ có địa hình khá hiểm trở phía Đông và Đông Nam có bờ đá dựng đứng hơn 20m khe nước trong lòng núi chảy qua bờ đá tạo nên một thác nước tuyệt đẹp như một tấm lụa bạch .Ngoài ra núi Thiên Nhẫn còn có nhiều địa danh đẹp nỗi tiếng như khe Tằm chảy từ ngọn Việt Sơn nước trong mát quanh năm nhân dân địa phương quen gọi là khe Tây vì người Pháp ngày xưa đóng đồn mãi ở tận núi Thành Nghệ An, vẫn cho người đến lấy nước về để uống. Đặc biệt là do núi Thiên Nhẫn điệp trùng như bức tường thành cho nên cha ông ta ngày xưa đều lấy núi Thiên Nhẫn làm căn cứ chống giặc ngoại xâm. Một lần đứng trước thế hiểm của núi của sông học giả Bùi Dương Lịch đã có bài thơ vịnh xin tạm dịch như sau:                                     
Đất nối ba sông hiểm
Núi như muôn ngựa phi
Chương – Hương chia  hai ngã
Lam - Phố hợp ba chi
Hoan - Đức khoe hùng trấn
Trà – Cao vững biên thủy
Việc bình ngô thuở ấy
Cơ nghiệp dựng từ đây.
Theo sách: “Khởi nghĩa Lam Sơn” do giáo sư Phan Huy Lê biên soạn và cuốn “Lịch sử Nghệ Tĩnh Tập1” xuất bản năm 1984 có đọan  ghi : “Năm 1424 theo kế hoạch của tướng Nguyễn Chích, Bình Định Vương. Lê Lợi cùng toàn bộ nghĩa quân Lam Sơn đã rời căn cứ cũ tại miền rừng núi phía Tây tỉnh Thanh Hóa vào giải phóng 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh để làm nơi đứng chân nhằm xây dựng lực lượng, tích trữ lương thảo, luyện tập quân sỹ chờ thời cơ mở cuộc tiến công giải phóng đất nước. Trong chiến dịch này sau chiến thắng tại miền Trà Lân diệt gần 3.000 tên giặc Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn đã hành quân thần tốc về xây dựng căn cứ tại động Liên Hoa (tức xã Sơn Phúc - huỵên Hương Sơn ngày nay), tiếp theo tháng 2 năm 1425  Lê Lợi cho xây dựng thành Lục Niên ở sườn Bắc Ngọn Trọ Voi trên núi Thiên Nhẫn dời đại bản doanh về đó để tiện cho việc chỉ huy nghĩa quân vây hãm và tiêu diệt toàn bộ quân Minh ở thành Nghệ An mở đầu cho thời kỳ tiến công quy mô lớn giải phóng hoàn toàn bờ cõi   
Trong 3 thế kỷ 17 -18 và 19 Thiên Nhẫn còn được các danh sỹ đương thời vì chán thế sự nhiễu nhương chọn làm nơi mai danh ẩn tích mà tiêu biểu trong số đó là La Sơn phu Tử Nguyễn Thiếp. Ngay từ khi còn giữ chức huấn đạo tại Anh Đô (huỵên Anh Sơn tỉnh Nghệ An ngày nay) Nguyễn Thiếp đã cho xây dựng sơn trại tại sườn phía Bắc ngọn núi có tên là Bùi Phong Chính. Cho đến năm 1759 hoàn thành, ông liền xin từ quan rồi đưa vợ con, gia quyến lên sống cảnh thanh bần nhưng lạc đạo trên núi Thiên Nhẫn. Nguyễn Thiếp còn cho xây dựng “Vọng Vân Đình” trước cửa sơn trại để ngắm mây trời và cảnh đẹp thiên nhiên sông nước.
Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước để tránh con mắt xoi mói của máy bay Mỹ quân và dân ta đã xây dựng tuyến đường 15A (còn gọi là đường mòn Hồ Chí  Minh) dọc theo chân núi Thiên  Nhẫn và suốt trong 8 năm chống chiến tranh phá hoại giặc Mỹ đường 15A trở thành một huyết mạch giao thông quan trọng ngày đêm rầm rập xe và người ra mặt trận.      
Ngày nay được hỗ trợ nguồn vốn của Tỉnh và TW, huyện Đức Thọ đang triển khai xây dựng nhiều công trình giao thông quan trọng như: nhựa hóa đường QL 15A, đường  Thị Trấn – Liên Minh – Tùng Châu và trùng tu một số di tích lịch sử nhằm biến núi Thiên Nhẫn - Bến Tam Soa thành một khu kinh tế du lịch trong tương lai./.

Phút Tưởng Niệm Các Anh Hùng Liệt Sỹ


Tin Nóng An Ninh Hình Sự

Thông Tin Giải Trí Ấn Tượng

Cười Xả Láng